Rạng sáng ngày 17/2/1979, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã điều động một lượng lớn quân đội và vũ khí hiện đại nhất mà họ có lúc đó tấn công vào 6 tỉnh biên giới phía bắc nước ta.
TQ đã huy động 60 vạn quân (chưa kể dân công hỏa tuyến phục vụ), tấn công trên toàn tuyến biên giới từ Quảng Ninh đến Phong Thổ dài trên 1.000 km, tập trung vào 3 khu vực Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai với Lào Cai là trọng điểm. Ngoài ra TQ còn mang theo mấy trăm máy bay, và một số tàu chiến thuộc hạm đội Nam hải sẵn sàng tham chiến khi cần thiết.
Thời gian tấn công: Cuộc tấn công của TQ vào lãnh thổ VN bắt đầu từ ngày 17/2/1979 và kết thúc ngày 16/3/1979, có thể chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn tấn công và giai đoạn rút lui.
Giai đoạn tấn công: thời gian 17 ngày (từ 17/2 đến 5/3/1979):
Ngày 17/2-19/2: Quân đội TQ đột kích trên toàn tuyến biên giới dài trên 1.000 km chiếm một số vị trí tiền duyên của ta.
Ngày 20/2: Chiếm thị xã Lào Cai, thị trấn Đồng Đăng.
Ngày 21/2: Chiếm thị xã Cao Bằng
Ngày 22/2: Chiếm thị trấn Bảo Lộc
Ngày 23/2: Chiếm thị xã Hà Giang
Ngày 24/2: Chiếm thị trấn Cam Đường
Các ngày sau đó 2 bên đánh nhau dữ dội tại vùng gần Lạng Sơn, Sapa. Ngày 5/3 TQ chiếm Sapa và một phần thị xã Lạng Sơn.
Ngay trong ngày hôm đó (5/3), TQ tuyên bố đã đạt mục đích, bắt đầu rút quân khỏi VN. VN tuyên bố tổng động viên toàn quốc. Một sư đoàn chính quy VN điều từ Campuchia và Lào đã về tới sát mặt trận. Liên Xô bắt đầu tăng quân tới biên giới Trung Xô.
Giai đoạn rút lui: thời gian 10 ngày (từ 6/3 đến 16/3/1979):
Kể từ lúc quân đội TQ rút lui, bộ đôi VN không tấn công, truy kích địch.
Quân TQ bắt đầu rút khỏi một phần của thị xã Lạng Sơn từ 5/3, đến 12/3 rút hết khỏi Đồng Đăng.
- Bắt đầu rút khỏi vùng Lào Cai từ 7/3 đến 13/3 thì rút hết
- Bắt đầu rút khỏi vùng Cao Bằng từ 7/3, đến 14/3 thì rút hết.
Ngày 16/3/1979 TQ tuyên bố hoàn thành việc rút quân, chiến tranh kết thúc.
Thống kê thương vong (tài liệu do Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cung cấp):
Một thống kê chính thức của Đài Loan phản ánh, số người chết của phía Trung Quốc là 26.000; của phía Việt Nam là 30.000 người.
Số bị thương: Phía Trung Quốc là 37.000 người. Số thương vong phía Việt Nam là 32.000 người.
Về số bị bắt sống, phía Trung Quốc là 260 người. Phía Việt Nam là 1.600 người.
(theo Yisheng.chinese.com)
Trong cuộc chiến tranh này, TQ đã phá hoại hoàn toàn 4 thị xã, hơn 20 thị trấn, huyện lỵ, nhiều làng xóm, nhà máy, hầm mỏ, nông trường, cầu đường, nhà cửa… của nhân dân ta tại những nơi chúng đi qua.
17 tháng 2, 2015
11 tháng 2, 2015
Tín hiệu đột phá từ Quảng Ninh
07/02/2015 22:18
Quảng Ninh vốn nổi tiếng là tỉnh dẫn đầu cả nước về việc dành tỉ lệ ngân sách lớn nhất cho khoa học - công nghệ, nay lại là nơi chính thức kiến nghị hợp nhất một loạt cơ quan cấp ủy và chính quyền
Trong khi chờ trung ương cho chủ trương hợp nhất, Quảng Ninh đề xuất thực hiện chủ trương nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo quản lý cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy với thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp, như Tổ chức - Nội vụ , Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra, Tuyên giáo - Thông tin truyền thông, trưởng Ban Dân vận kiêm chủ tịch Ủy ban MTTQ. Quảng Ninh còn kiến nghị thực hiện thí điểm bầu cử trực tiếp chủ tịch UBND cấp xã, phường, thị trấn...
Theo thiển nghĩ của người viết bài này, đề xuất của Quảng Ninh rất phù hợp, cần nhất thể hóa bộ máy của Đảng và các bộ phận nối dài với chính quyền (hành pháp). Song, nhất thể hóa vẫn chưa đủ mà cái gốc của vấn đề là vấn nạn phình biên chế của các bộ máy trong hệ thống chính trị.
Nước Mỹ có diện tích 9.826.630 km2, dân số 320 triệu người nhưng công chức chỉ 2,1 triệu người. Trong khi đó, Việt Nam chỉ rộng 331.210 km2, dân số chỉ 90 triệu nhưng số công chức lên đến 2,8 triệu người. Điều đó có nghĩa Mỹ chỉ cần 3/4 số công chức ở nước ta để quản lý, tổ chức, điều hành đất nước họ (chưa nói là điều hành cả thế giới). Cũng có nghĩa 160 người dân Mỹ chỉ nuôi 1 công chức, trong khi 40 người dân Việt Nam phải nuôi 1 công chức (chưa kể chuyện tham nhũng, sách nhiễu của giới này).
Đầu thập niên 1990, tôi đi khảo sát ở một xã của Thái Lan. Công chức, viên chức ăn lương nhà nước của họ chỉ gồm 5 cảnh sát, 2 cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, 2 cán bộ y tế và toàn bộ giáo viên công lập. HĐND xã không có lương, chủ tịch chỉ hưởng trợ cấp từ ngân sách xã, hết nhiệm kỳ thì thôi.
Công chức Việt Nam, nói theo ngôn ngữ của người dân là đông đáng sợ! Thế nhưng, theo Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, 30% công chức Việt Nam chỉ hưởng lương chứ không làm việc. Họ không làm việc, hưởng mức lương bị cho là “còm” nhưng vẫn đầu tư tiền tỉ để mua chiếc ghế hưởng lương ấy (nhất là ở vị trí có thẩm quyền) và sống khỏe re, cũng có nghĩa là làm giàu nhanh nhất.
Trong lĩnh vực xã hội, đẳng thức thường phức tạp, khó giải hơn nhiều so với toán học. Phải chăng chính trị thống nhất lợi ích toàn dân nghĩa là tiến bộ, thắng lợi; còn chính trị vi phạm thống nhất lợi ích toàn dân, hậu quả là lạc hậu, thất bại?
Trên thế giới, chỉ có bộ máy các nước chuyên lo “quản lý xã hội” mới đẻ ra thật đông người. Vậy nên, chính trị (phương thức cai trị) phải lấy xã hội (dân tộc, cộng đồng) làm đích, làm chuẩn, nhất cử nhất động đều phải phụng sự cái đích tối thượng đó.
Đầu năm 2007, tôi đã viết bài “Suy nghĩ về cách tiếp cận và lộ trình cải cách hệ thống chính trị ở Việt Nam” - trong đó đề cập rõ cần phải nhất thể hóa, được trình bày báo cáo ở hội nghị cải cách hành chính toàn quốc tại Hà Nội.
Kiến nghị chính thức của Quảng Ninh là mệnh lệnh của cuộc sống, là xung lực để tỉnh này đột phá vươn lên. Không phải tình cờ mà cách đây khoảng 1 tháng, Hội đồng Lý luận trung ương cùng Tỉnh ủy - UBND tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức tổng kết việc thí điểm đổi mới thể chế chính trị trước tình hình mới.
Ở nước lớn như Trung Quốc, nhỏ như Lào, việc nhất thể hóa đã được thực hiện từ lâu. Việc nhất thể hóa các cơ quan Đảng, chính quyền và một số tổ chức cánh tay nối dài của Đảng ở Việt Nam là xu hướng hợp thời. Tuy nhiên, phải tiến hành quá trình này trên cơ sở mở rộng, làm sâu sắc hơn nữa dân chủ trong Đảng và toàn xã hội.
30 tháng 1, 2015
Chuyện hài giảm biên chế
Có một cơ quan to đùng, gọi là Tổng cục "Nhân thể". Từ khi thành lập đến nay, đơn vị ấy chẳng làm được việc gì ra trò ngoài ăn nhậu, nghỉ ngơi và giải quyết các vụ vui vẻ, nhưng biên chế lại phình to với hàng trăm bộ phận khác nhau, cấu tạo và cơ chế hoạt động rất phức tạp rối rắm. Vì vậy cấp trên yêu cầu giảm biên chế càng nhiều càng tốt, không phải chỉ 10% như chỉ đạo. Vậy là một cuộc họp được tổ chức để bàn và quyết định xem ai đi ai ở.
Vì là đơn vị có chức năng nhiệm vụ phụ trách về thân thể con người nên anh “Vụ trưởng mồm” được phát biều trước:
- Tôi xin ngắn gọn thế này: nếu tôi ra đi, không ăn nữa thì các vị cũng đói luôn!
Đến lượt ông Trưởng Phòng phụ trách tay và chân biện luận:
- Thử hỏi ,đơn vị tôi hàng ngày không chạy đôn chạy đáo để vơ vào thì lấy gì cho các vị đem về nhà?
Bà Cục trưởng mắt cười rất tươi:
- Tôi mà nghỉ việc về hưu sớm thì toàn thể cơ quan đi lạc ngay, chả thấy đường đâu! Suốt ngày chỉ mò mẫm định hướng thôi…
Cuối cùng cô em út trưởng bộ phận "nhạy cảm" liền lên tiếng thỏ thẻ:
- Tuy em cũng ra đời cùng thời với các anh các bác nhưng mãi 16 năm sau em mới chính thức được vào biên chế và làm việc thực sự. Từ đó, cả ngày lẫn đêm, iem đã phục vụ nhiều đối tượng khác nhau một cách rất hăng hái, được các anh các bác từ cấp dưới đến cấp trên khen ngợi rối rít, có khi còn rên ư ử. Vậy theo nguyên tắc ai già hơn phải bị giảm biên chế trước, em còn trẻ hơn các bác, còn hoạt động được rất lâu, có khi ngoài 70 vẫn làm việc tốt, nên không thể về hưu sớm.
Bàn nát nước, chẳng cắt được bộ phận nào, cuối cùng đơn vị đành gửi báo cáo lên trên xin giữ nguyên biên chế như cũ. Vậy là tất cả đều vui vẻ, lại rủ nhau đi lĩnh lương và làm lễ tổng kết rất hoành tráng...
27 tháng 1, 2015
Bài sưu tầm
Long Nhất
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã chỉ ra 10 đặc tính căn bản của người Việt.
Khi nhìn nhận bất cứ một vấn đề gì chúng ta cũng phải có cái nhìn khách quan, đầy đủ hai mặt của vấn đề, trên nhiều phương diện giữa tốt và xấu, tích cực và tiêu cực, từ đó rút ra vậy cái gì nên phát huy và cái gì nên hạn chế.
Cách đây hai mươi năm, Trung Quốc có sách “Người Trung Quốc Xấu Xí” của tác giả Bá Dương (Bo Yang). Ở Mỹ có cuốn sách nổi tiếng tương tự là: “The ugly American” của WILLIAM J. LEDERER AND EUGENE BURDICK xuất bản năm 1958 đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất thời đó. Dường như có nhiều liên quan giữa sự can đảm nhìn nhận ra những yếu kém của chính mình và sức vươn lên mạnh mẽ cho dân tộc.
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:
2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt). [when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs].
6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].
8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc).
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
23 tháng 1, 2015
Một tý ní nuận!
Mặc dù đã cố không nghĩ ngợi gì về thời cuộc. đặc biệt là những v/đ lý luận đang bí rì rì nhưng rồi cái thẩu của tui hắn không chịu . Vừa qua, nghe ô Tổng Bí và các quân sư nói về cải cách thể chế chính trị, mỗ tôi lại… ngứa đầu, muốn chia xẻ vài điều với các cụ làng ta, bởi tôi luôn cho rằng, để đất nước tiến lên, đã đến lúc chúng ta phải tự thiết kế được một hệ thống lý luận mới mang tính dẫn đường dựa trên những thành tựu trí tuệ của toàn nhân loại trong thờì đại mới. Đã đến lúc không thể chỉ dựa vào những giáo huấn xa vời đã tồn tại hàng trăm năm nay của những nhà nghiên cứu xã hội nước ngoài. Nếu không, mọi cố gắng đều chỉ như người mò mẫm dò đường, mọi hành động đều chắp vá, khi tả khi hữu,đối phó ngắn hạn, tạo ra một xã hội rối rít chụp dựt rất đáng lo ngại.
Thực tế là đã từ lâu, họ chỉ nhấn mạnh một chiều “cải cách thể chế kinh tế” nhưng luôn né tránh công cuộc cải cách thể chế chính trị. Đến Hội nghị vừa rồi, người ta mới đặt v/đ chính thức cải cách thể chế chính trị đi đôi với cải cách thể chế kinh tế nhưng với điều kiện tiên quyết không làm mất chế độ, không làm suy yếu sự lãnh đạo của đảngv.v.Tuy nhiên cũng chưa có luận cứ gì rõ ràng và vững chắc.
Phương pháp tư duy như vậy liệu có đúng với qui luật của phép biện chứng duy vật và thực tế cuộc sống ? Tôi cho là không. Vì mấy lẽ sau đây,xin ngắn gọn vài điều
Một là :
- Thể chế chính trị của QG là một khái niệm triết học bao gồm hệ tư tưởng chỉ đạo,mục đích cao nhất,mục tiêu chiến lược,chủ trương,kế hoạch hành động; chức năng nhiệm vụ quyền hạn của bộ máy lãnh đạo,quản lý đất nước,cơ chế chính sách vận hành bộ máy v.v. Đó chính là những yếu tố cơ bản cấu thành nên cái mà chúng ta gọi là TTKT xã hội. Theo nguyên lý thì HTCS quyết định sự ra đời, suy yếu và diệt vong của TTKT. Ngược lại, TTKT luôn luôn có tác động rất mạnh mẽ lên HTCS. Nó có thể thúc đẩy hoặc làm chậm tốc độ phát triển, thậm chí trở thành vật cản khiến cho HTCS lạc hậu so với những yêu cầu của đất nước trong giai đoạn lịch sử nhất định. Từ đó có thể suy ra : không thể có một thể chế kinh tế tiến bộ khi nó được lãnh đạo, quản lý bởi một thể chế chính trị lạc hậu, thiếu hiệu quả do tham nhũng nặng nề. Như vậy không thể tách rời tiến trình đổi mới về kinh tế mà không muốn đổi mới về chính trị. Đó là tư duy phản khoa học, phi thực tế mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa chủ quan,duy ý chí đã từng tồn tại ở nhiều nước XHCN trước đây, dẫn đến sự sụp đổ không tránh khỏi của chế độ . Chúng ta hãy lấy thí dụ từ nước K. Thể chế chính trị của Ponpot chỉ trong 3 năm đã phá tan tành nền kinh tế của đất nước, còn thể chế hiện nay đã vực dậy đất nước bên bờ diệt chủng và phát triển nhanh chóng,có khả năng vượt lên trước VN… Nếu không thay đổi thể chế chính trị thì làm thế nào K có hôm nay?
Hai là :
Mục đích cao nhất của đổi mới về thể chế chính trị cũng như thể chế kinh tế không phải là “bảo vệ chế độ, bảo vệ sự lãnh đạo của đảng cầm quyền” bằng bất kỳ giá nào. Mục tiêu cuối cùng và cao nhất phải là : vì sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trước những thử thách của hoàn cảnh lịch sử mới.Đặt vđ như vậy mới chính xác. Tuy nhiên cần cụ thể hóa hơn để thấy rõ cách xác định mục tiêu nào là đúng đăn.
- Với quan điểm “Lợi ích Tổ Quốc trên hết”, Cải cách TCCT( Thể chế chính trị ) nhằm dân chủ hóa đất mước ,nhờ đó huy động mọi lực lượng toàn dân tộc vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc , không vì bất kỳ cá nhân,tổ chức chính trị hoặc nhóm lợi ích nào.
- Cải cách TCCT nhằm đem lại quyền lợi chính đáng cho mọi tâng lớp nhân dân, thực hiện hòa bình hòa hợp dân tộc nên không chấp nhận bất kỳ âm mưu và hành động nào gây xung đột xã hội, làm đất nước mất ổn định ,đặc biệt là hoạt động khủng bố ,gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo, vùng miền v.v
- Cải cách TCCT làm triệt tiêu cơ sở chính trị, kinh tế của nhóm lợi ích tồn tại nhờ tham nhũng,cơ hội chui vào bộ máy lãnh đạo quản lý , trên cơ sở đó khôi phục niềm tin của nhân dân đối với đảng cầm quyền.
- Cải cách TCCT để giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc, không bị phụ thuộc vào bất kỳ thế lực bên ngoài nào, tạo ra tiền đề để hội nhập thành công hơn nữa...
- v.v và v.v.
Với những mục tiêu ấy, tại sao lại sợ cải cách TCCT? Và khi buộc phải nói ( chứ chưa làm ) lại đã vội đưa ra những định hướng rất ít thuyết phục, thậm chí còn làm cho người dân nghi ngờ mục đích thật sự của những điều răn đe ấy?
Tóm lại, tôi cho rằng, nếu cứ tư duy lý luận và hành động như kiểu cách hiện nay, không có đột biến gì thì đất nước sẽ vẫn đi lên nhờ sức lực và trí tuệ sáng tạo của nhân dân,nhưng ngày càng tụt hậu là điều khó tránh khỏi.
12 tháng 1, 2015
Mời các cụ đoán mò!
Vậy là cuộc bỏ phiếu tín nhiệm đầu tiên đối với bộ máy cao nhất thuộc “lỗi hệ thống” đã được tiến hành hôm qua-theo thông báo rất ngắn gọn của HN 10 . Một câu hỏi được đặt ra.
Liệu kết quả bỏ phiếu có được công khai trước toàn dân hay là ..giữ bí mật nội bộ???
Dưới đây xin ghi lại vài ý kiến của mấy cụ bô lão “hay chuyện”( như những đứa trẻ hay chuyện)
Trường hợp công khai.
Nếu thế thì quí quá vì việc của Đ cũng là việc của dân, mọi việc từ to đến nhỏ đều vì nước vì dân, nhất là đánh giá thành tích đạo đức phẩm chất của những cá nhân lãnh đạo lại càng cần được công khai cho dân biết để phân biệt đâu là nô bộc, còn đâu là sâu! Việc ấy sẽ tăng thêm lòng tin của dân đối với Đ.. Nhưng e rằng dân biết thì “nhiều đ/c sẽ bị lộ” vì phiếu thấp quá mức; hậu quả là còn đâu uy tín để làm việc và dạy dỗ người khác?
Trường hợp không công khai’
Như vậy có nghĩa là việc dân việc Đ không liên quan đến nhau; Đ bí mật để giữ uy tín ; nhưng càng giữ thì càng mất uy tín hơn. Thà cứ để tù mù như trước nay còn hơn .Hơn nữa biết đâu cái mồm của lão “Chân dung quyền lực” chẳng la to lên số phiếu chính xác của từng vị? Khi ấy lại phải đính chính, phản biện mệt mỏi.
Bài toán xem ra rất khó giải. Xin mời các cụ Làng ta đưa ra lời giải thử xem !Hi Hi..
27 tháng 11, 2014
Đã tìm ra
nguyên nhân đích thực ?
Vừa qua,trả lời báo giới
về vụ Ông Trần Văn Truyền,,anh Vũ Quốc Hùng cho rằng việc đề bạt cán bộ ở ta
nói chung, ông Truyền nói riêng có những
sai sót là do “nể nang “
Còn anh Phạm Quốc
Anh lại cho rằng : “ vụ việc này, cần phải làm rõ tại sao mọi
chuyện xảy ra lâu như thế mà giờ họ mới phát hiện ra? Đồng ý rằng vụ việc này khá tế nhị và có nhiều chỗ khó
nên phía Ủy ban Kiểm tra Trung ương phải làm cho chắc chắni “
”.
Tóm lại, lâu nay,việc lựa
chọn đề bạt cán bộ đặc biệt là cán bộ cấp cao đều tiến hành một cách rất tế
nhị, nể nangv.v. đến mức khó nói ra sự thật. Ngay cách xử lý vụ việc vẫn còn nể
nang. Tại sao mới kết luận Ô Truyền có những sai phạm về thiếu trung thực với
đảng ? nếu ổng không tham nhũng hoặc bao che cho tham nhũng thì tại sao đã tịch
thu tài sản?
Nếu đã tịch thu tài sản tất
yếu phải vi phạm pháp luật. Đã đụng vào pháp luật mà lại chỉ phê bình,kiểm
điểm? Trong trường hợp này tôi cho rằng cần tiến hành các bước tiếp theo để truy
tố trước pháp luật để làm gương cho kẻ khác. Không thể lấy lại vài cái nhà rồi thôi,
coi như xử lý nội bộ.
Nhưng một câu hỏi đặt ra: tại sao phải tế
nhị, nể nang? Do đâu phải tế nhị nể nang?
Nguyên nhân sâu xa dẫn đến
cái sự tế nhị nể nang ấy nằm ở đâu? Xét đến cùng, tế nhị nể nang chỉ là biều
hiện bên ngoài thuộc phạm trù ứng xử cho nên không thể là nguyên nhân của những
sai lầm thiếu sót trong công tác tìm
kiếm người tài phục vụ đất nước.
Cần chỉ đúng nguyên nhân bên trong của hiện
tượng mới có thể sửa chữa sai lầm,đặc biệt là trong công tác cán bộ.
Tôi cho rằng, tế nhị nể nang là kết quả của
lợi ích nhóm! Không có gì khác.
Nhóm nọ thương lượng, chia
phần với nhóm kia để cùng hưởng miếng bánh chung, từ đó mới dẫn đến đội quân
công chức phình quá to, lạm phát thứ trưởng và cấp phó nói chung, cạnh tranh
nhau để có thừa tướng, nhìn nhau để phong học hàm học vi tùn lum v.v
Từ đó dẫn đến 30 % công chức không thực sự làm việc, có đến 24.500 Ts,9000
Gs nhưng hàng năm chỉ có một vài sáng chế
được đăng ký quốc tế
Vậy nguyên
nhân của mọi nguyên nhân là không
coi trọng ,thậm chí không muốn sử dụng nhân tài đích thực để tìm đúng người
phục vụ đất nước, nhân dân chứ không phải chỉ trung thành với cấp trên. Cũng vì
vậy, việc tìm kiếm lựa chọn can bộ không trải qua một qui trình dân chủ -công
khai-minh bạch dựa vào nhân dân chứ không chỉ dựa vào mấy nhóm người có đặc
quyền ban phát bổng lộc.
Phải chăng đó chính là điều mà Ông Q/A cho là”chỗ khó ”.
Chừng nào chưa được nói, chưa nói được thì sẽ không
làm được; không làm được thì sẽ còn những Tr văn Truyền phấy ra đời. Phải không các cụ?
23 tháng 11, 2014
Nhận được bài này từ một người bạn, mỗ tôi bèn dán lên đình Làng để các cụ đọc và suy ngẫm về cái sự đời báo chí nước nhà hiện nay. Chắc Ban VHTT sẽ cho đây là thái độ thù địch của bọn phản động v.v. nhưng riêng mỗ cho rằng họ nói đúng ..
Báo chí Việt Nam ‘tuyệt vọng câu khách’?
by AdminHDTG
Báo chí Việt Nam hiện đang không thoát khỏi guồng quay số hóa, điện tử hóa nhưng dường như đang loay hoay giữa ngã ba đường và xu hướng thấy rõ nhất là lá cải hóa.
Chưa có một tờ báo mạng nào được xem là chuyên nghiệp, thông tin chuẩn xác, đáng tin cậy. Nói như một nhà bình luận trong nước, cả làng báo (mạng) là “một vườn cải xum xuê”.
Sụt giảm
Theo Bộ Thông tin-Truyền thông Việt Nam, tính đến ngày 26/12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo in với 1.111 ấn phẩm, 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí.
Trong số hơn 800 tờ báo, số báo sống được nhờ lượng phát hành chỉ trên dưới 10 tờ, theo một số nhà báo trong nước.
Vài năm trở lại đây, những báo có số phát hành hàng đầu như Tuổi trẻ, Thanh niên, Công an TPHCM, Phụ nữ… cũng sụt giảm lượng phát hành ở mức rất đáng kể.
Phó tổng biên tập của một tờ báo vừa kể tiết lộ, lượng phát hành của tờ báo đã giảm tới 1/3 chỉ trong vòng hai năm, còn khoảng 200 ngàn bản/kỳ.
Số phát hành của tờ báo thường được giữ bí mật và con số công khai thường lớn hơn nhiều so với thực tế, một cách để duy trì quảng cáo.
Tại Việt Nam, cho dù có tới 800 tờ báo in, nhưng số tờ báo bán được (bán trên sạp báo và đặt báo dài hạn) cũng chỉ tính trên con số 10.
Thời gian vừa qua, hầu hết những “phóng viên”, “nhà báo” bị bắt với cáo buộc tống tiền các doanh nghiệp đến từ nhóm báo này. Một cách khác để tồn tại là “đánh thuê” theo đơn đặt hàng dưới cái gọi là “hợp đồng truyền thông”, tức là được trả tiền để viết “đánh” ai đó.
Tuy những tờ báo này ít được xã hội biết đến nhưng cứ có bài được dán mác “chống tiêu cực” là cũng đủ để ai đó gặp rắc rối.
Tuy nhiên, cách tồn tại này ngày càng tỏ ra mong manh, nhất là trước hiện tượng báo mạng, trang tin điện tử trăm hoa đua nở và chuyện “được/bị lên báo” nay trở thành “thường ngày ở huyện”.
Sự phát triển của internet, của các thiết bị đọc điện tử dẫn đến việc đọc tin tức trên mạng trở nên phổ biến.
Tính tới tháng 11/2012, có khoảng 31,3 triệu người dùng Internet ở Việt Nam (chiếm gần hơn 35 % dân số cả nước, theo Trung tâm Internet Việt Nam. Hầu hết người dùng Internet đều ở tuổi từ 20-40.
Có người nói tại Việt Nam hiện nay, mạng xã hội là nguồn tin chính. Thực ra đây cũng chỉ là phỏng đoán. Chưa có nghiên cứu thực sự nào chứng minh điều này.
Nhưng xu hướng lá cải hóa nền báo chí là điều nhiều người thấy rõ.
Để hiểu thêm về xu hướng của báo chí Việt Nam, cần thiết phải nhìn vào nguồn tài chính để các tòa báo tồn tại.
Trong khi báo in sụt giảm và nhiều tờ báo đang chuyển qua hình thức kỹ thuật số, tại thị trường Việt Nam, quảng cáo trên truyền hình vẫn chiếm đa số.
Theo một thống kê, năm 2012, doanh thu quảng cáo toàn thị trường đạt 20.400 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2011.
Trong đó, truyền hình chiếm 18.246 tỷ đồng, tăng 136% so với năm 2011; quảng cáo trên báo in và tạp chí giảm khoảng 8%, đạt 2.151 tỷ đồng và phát thanh giảm gần 20%, với chưa đầy 25 tỷ đồng.
Tính theo tỷ lệ, quảng cáo trên báo in chiếm khoảng 8%, truyền hình 78%, internet 9% và quảng cáo ngoài trời chiếm 4%. Tuy nhiên, năm ngoái doanh thu quảng cáo trên báo đã giảm 1,3% trong khi các phương tiện truyền thông khác giữ con số tốt hơn nhiều.
Điều này khiến nhiều tờ báo phải đấu tranh để tồn tại bởi việc sụt giảm doanh thu.
Cuộc chiến “câu view”
Để tồn tại, các tờ báo điện tử Việt Nam buộc phải bước vào cuộc chiến “câu view” (tăng lượt xem) bằng gần như mọi giá. Các đề tài liên quan đến sex, giật gân, người giàu có, người đẹp, các nhân vật giải trí của giới bình dân (chiếm đa số)… được khai thác triệt để…
Có thể nói, trong cuộc chiến tranh giành miếng bánh nhỏ bé của thị trường quảng cáo online chưa thực sự lớn mạnh, nhiều báo mạng lao vào tranh đua bằng chiêu bài lá cải một cách tuyệt vọng.
Những từ khóa gây sốc, cho dù hầu hết vi phạm những quy tắc của báo chí đứng đắn về tính khách quan, trung dung của người làm báo, được tận dụng tối đa nhằm thu hút lượt đọc.
“Kinh hoàng”, “nghẹn lòng”, “đắng lòng”, “hé lộ”, “bóc mẽ”, “gây sốc”, “bất ngờ”… là những động từ, tính từ chủ quan của tờ báo được tận dụng tối đa trên các hàng tít.
Báo mạng cũng là giới “sáng tạo” ra những khái niệm mới và khiến chúng phổ biến: “giàu như đại gia” (cho dù không biết đại gia này có bao nhiêu tiền, nhà to thế nào), “đẹp như hotgirl” (?).
Nhiều tờ báo, thậm chí sẵn sàng đưa lên những câu chuyện gần như không có tính báo chí, chỉ miễn có người kích chuột vào là được. Một tờ báo mạng hồi đầu năm khai thác chuyện một cô gái không nhịn được đã “ị đùn” trên xe khách đường dài.
Bài báo “bốc mùi” này tuy sau bị phê phán, nhưng đối với những người làm báo, đó có thể xem là “thành công” bởi “câu được view”.
Người ta giờ đây cũng sẵn sàng đưa lên đủ loại tin đồn chưa được kiểm chứng, thậm chí dùng những thứ được tung lên mạng xã hội, không qua thẩm định và tác nghiệp của phóng viên, miễn là thu hút trí tò mò.
Các tờ báo mạng đều na ná giống nhau ở đề tài, ngôn ngữ. Có một điểm chung là họ đều nhắm đến những từ khóa “sốc, sex” mà họ cho là thu hút độc giả để đưa lên tít.
Ngôn ngữ của báo mạng dần giống như truyện kiếm hiệp Kim Dung với “đuổi giết” thành “truy sát”, “cô gái”, “người đàn bà” nay thành “thiếu nữ”, “thiếu phụ”, “góa phụ”, con nhà giàu có giờ trở thành “thiếu gia”, “tiểu thư”, thậm chí nhiều báo còn dùng “nữ tiểu thư” (chắc để phân biệt với “nam tiểu thư”?).
Ngoài “cưỡng dâm”, giờ đây người ta còn viết “cưỡng hôn”, ý nói hôn người khác mà không được cho phép.
Trong cuộc đua câu view, nhiều thứ chuẩn mực đã bị xem nhẹ.
Thậm chí, nhiều việc rất nghiêm túc cũng bị “cuộc chiến câu view” làm cho trở thành nhảm nhí.
Đưa tin về thủ tướng Yingluck Shinawatra, thay vì tập trung nội dung chính trị, một số tờ báo mạng chỉ nhìn vào dung mạo và trang phục của bà kiểu “Ngắm thủ tướng Thái Lan xinh đẹp, quyến rũ”. Nhưng những bài như vậy, lại ăn khách.
Xu hướng này diễn ra trên ấn bản điện tử của cả những tờ báo xưa nay được xem là nghiêm túc, chuyên nghiệp như Tuổi trẻ, Thanh niên hay Pháp luật TPHCM.
Không phải không có những nỗ lực làm báo điện tử nghiêm túc, chuyên nghiệp như VietnamNet từng là một ví dụ.
Tuy nhiên, do vòng quay của xã hội, của thị hiếu bình dân, tờ báo này thay vì nghiêm túc như buổi đầu, nay cũng dùng đủ trò câu khách lá cải để thu hút độc giả trẻ, những người dường như thích tin tức giật gân, thỏa mãn trí tò mò hơn là tìm những thông tin bổ ích, giúp tiến bộ.
Phải chăng xã hội nào thì báo chí đó? Với những gì đang diễn ra trên mặt báo, có thể có những liên tưởng về người đọc Việt Nam ngày nay, họ là ai.
Ở bất cứ quốc gia nào cũng có người thích tin tức lá cải và những tờ báo lá cải. Khác với Việt Nam ở chỗ: ngoài báo lá cải, còn có nhiều tờ báo đàng hoàng, nghiêm túc.
Chắc chắn ở Việt Nam vẫn có một bộ phận độc giả có trình độ cần những thông tin nghiêm túc, có ích, những tờ báo mạng chuyên nghiệp và đây cũng là đòi hỏi của một xã hội tiến bộ.
Nhưng chưa xuất hiện những tờ báo như thế ở quốc gia 90 triệu dân này.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Nguyễn Anh Minh từ Sài Gòn, Việt Nam.
Theo BBC
Báo chí Việt Nam ‘tuyệt vọng câu khách’?
by AdminHDTG
Báo chí Việt Nam hiện đang không thoát khỏi guồng quay số hóa, điện tử hóa nhưng dường như đang loay hoay giữa ngã ba đường và xu hướng thấy rõ nhất là lá cải hóa.
Chưa có một tờ báo mạng nào được xem là chuyên nghiệp, thông tin chuẩn xác, đáng tin cậy. Nói như một nhà bình luận trong nước, cả làng báo (mạng) là “một vườn cải xum xuê”.
Sụt giảm
Theo Bộ Thông tin-Truyền thông Việt Nam, tính đến ngày 26/12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo in với 1.111 ấn phẩm, 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí.
Trong số hơn 800 tờ báo, số báo sống được nhờ lượng phát hành chỉ trên dưới 10 tờ, theo một số nhà báo trong nước.
Vài năm trở lại đây, những báo có số phát hành hàng đầu như Tuổi trẻ, Thanh niên, Công an TPHCM, Phụ nữ… cũng sụt giảm lượng phát hành ở mức rất đáng kể.
Phó tổng biên tập của một tờ báo vừa kể tiết lộ, lượng phát hành của tờ báo đã giảm tới 1/3 chỉ trong vòng hai năm, còn khoảng 200 ngàn bản/kỳ.
Số phát hành của tờ báo thường được giữ bí mật và con số công khai thường lớn hơn nhiều so với thực tế, một cách để duy trì quảng cáo.
Tại Việt Nam, cho dù có tới 800 tờ báo in, nhưng số tờ báo bán được (bán trên sạp báo và đặt báo dài hạn) cũng chỉ tính trên con số 10.
Thời gian vừa qua, hầu hết những “phóng viên”, “nhà báo” bị bắt với cáo buộc tống tiền các doanh nghiệp đến từ nhóm báo này. Một cách khác để tồn tại là “đánh thuê” theo đơn đặt hàng dưới cái gọi là “hợp đồng truyền thông”, tức là được trả tiền để viết “đánh” ai đó.
Tuy những tờ báo này ít được xã hội biết đến nhưng cứ có bài được dán mác “chống tiêu cực” là cũng đủ để ai đó gặp rắc rối.
Tuy nhiên, cách tồn tại này ngày càng tỏ ra mong manh, nhất là trước hiện tượng báo mạng, trang tin điện tử trăm hoa đua nở và chuyện “được/bị lên báo” nay trở thành “thường ngày ở huyện”.
Sự phát triển của internet, của các thiết bị đọc điện tử dẫn đến việc đọc tin tức trên mạng trở nên phổ biến.
Tính tới tháng 11/2012, có khoảng 31,3 triệu người dùng Internet ở Việt Nam (chiếm gần hơn 35 % dân số cả nước, theo Trung tâm Internet Việt Nam. Hầu hết người dùng Internet đều ở tuổi từ 20-40.
Có người nói tại Việt Nam hiện nay, mạng xã hội là nguồn tin chính. Thực ra đây cũng chỉ là phỏng đoán. Chưa có nghiên cứu thực sự nào chứng minh điều này.
Nhưng xu hướng lá cải hóa nền báo chí là điều nhiều người thấy rõ.
Để hiểu thêm về xu hướng của báo chí Việt Nam, cần thiết phải nhìn vào nguồn tài chính để các tòa báo tồn tại.
Trong khi báo in sụt giảm và nhiều tờ báo đang chuyển qua hình thức kỹ thuật số, tại thị trường Việt Nam, quảng cáo trên truyền hình vẫn chiếm đa số.
Theo một thống kê, năm 2012, doanh thu quảng cáo toàn thị trường đạt 20.400 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2011.
Trong đó, truyền hình chiếm 18.246 tỷ đồng, tăng 136% so với năm 2011; quảng cáo trên báo in và tạp chí giảm khoảng 8%, đạt 2.151 tỷ đồng và phát thanh giảm gần 20%, với chưa đầy 25 tỷ đồng.
Tính theo tỷ lệ, quảng cáo trên báo in chiếm khoảng 8%, truyền hình 78%, internet 9% và quảng cáo ngoài trời chiếm 4%. Tuy nhiên, năm ngoái doanh thu quảng cáo trên báo đã giảm 1,3% trong khi các phương tiện truyền thông khác giữ con số tốt hơn nhiều.
Điều này khiến nhiều tờ báo phải đấu tranh để tồn tại bởi việc sụt giảm doanh thu.
Cuộc chiến “câu view”
Để tồn tại, các tờ báo điện tử Việt Nam buộc phải bước vào cuộc chiến “câu view” (tăng lượt xem) bằng gần như mọi giá. Các đề tài liên quan đến sex, giật gân, người giàu có, người đẹp, các nhân vật giải trí của giới bình dân (chiếm đa số)… được khai thác triệt để…
Có thể nói, trong cuộc chiến tranh giành miếng bánh nhỏ bé của thị trường quảng cáo online chưa thực sự lớn mạnh, nhiều báo mạng lao vào tranh đua bằng chiêu bài lá cải một cách tuyệt vọng.
Những từ khóa gây sốc, cho dù hầu hết vi phạm những quy tắc của báo chí đứng đắn về tính khách quan, trung dung của người làm báo, được tận dụng tối đa nhằm thu hút lượt đọc.
“Kinh hoàng”, “nghẹn lòng”, “đắng lòng”, “hé lộ”, “bóc mẽ”, “gây sốc”, “bất ngờ”… là những động từ, tính từ chủ quan của tờ báo được tận dụng tối đa trên các hàng tít.
Báo mạng cũng là giới “sáng tạo” ra những khái niệm mới và khiến chúng phổ biến: “giàu như đại gia” (cho dù không biết đại gia này có bao nhiêu tiền, nhà to thế nào), “đẹp như hotgirl” (?).
Nhiều tờ báo, thậm chí sẵn sàng đưa lên những câu chuyện gần như không có tính báo chí, chỉ miễn có người kích chuột vào là được. Một tờ báo mạng hồi đầu năm khai thác chuyện một cô gái không nhịn được đã “ị đùn” trên xe khách đường dài.
Bài báo “bốc mùi” này tuy sau bị phê phán, nhưng đối với những người làm báo, đó có thể xem là “thành công” bởi “câu được view”.
Người ta giờ đây cũng sẵn sàng đưa lên đủ loại tin đồn chưa được kiểm chứng, thậm chí dùng những thứ được tung lên mạng xã hội, không qua thẩm định và tác nghiệp của phóng viên, miễn là thu hút trí tò mò.
Các tờ báo mạng đều na ná giống nhau ở đề tài, ngôn ngữ. Có một điểm chung là họ đều nhắm đến những từ khóa “sốc, sex” mà họ cho là thu hút độc giả để đưa lên tít.
Ngôn ngữ của báo mạng dần giống như truyện kiếm hiệp Kim Dung với “đuổi giết” thành “truy sát”, “cô gái”, “người đàn bà” nay thành “thiếu nữ”, “thiếu phụ”, “góa phụ”, con nhà giàu có giờ trở thành “thiếu gia”, “tiểu thư”, thậm chí nhiều báo còn dùng “nữ tiểu thư” (chắc để phân biệt với “nam tiểu thư”?).
Ngoài “cưỡng dâm”, giờ đây người ta còn viết “cưỡng hôn”, ý nói hôn người khác mà không được cho phép.
Trong cuộc đua câu view, nhiều thứ chuẩn mực đã bị xem nhẹ.
Thậm chí, nhiều việc rất nghiêm túc cũng bị “cuộc chiến câu view” làm cho trở thành nhảm nhí.
Đưa tin về thủ tướng Yingluck Shinawatra, thay vì tập trung nội dung chính trị, một số tờ báo mạng chỉ nhìn vào dung mạo và trang phục của bà kiểu “Ngắm thủ tướng Thái Lan xinh đẹp, quyến rũ”. Nhưng những bài như vậy, lại ăn khách.
Xu hướng này diễn ra trên ấn bản điện tử của cả những tờ báo xưa nay được xem là nghiêm túc, chuyên nghiệp như Tuổi trẻ, Thanh niên hay Pháp luật TPHCM.
Không phải không có những nỗ lực làm báo điện tử nghiêm túc, chuyên nghiệp như VietnamNet từng là một ví dụ.
Tuy nhiên, do vòng quay của xã hội, của thị hiếu bình dân, tờ báo này thay vì nghiêm túc như buổi đầu, nay cũng dùng đủ trò câu khách lá cải để thu hút độc giả trẻ, những người dường như thích tin tức giật gân, thỏa mãn trí tò mò hơn là tìm những thông tin bổ ích, giúp tiến bộ.
Phải chăng xã hội nào thì báo chí đó? Với những gì đang diễn ra trên mặt báo, có thể có những liên tưởng về người đọc Việt Nam ngày nay, họ là ai.
Ở bất cứ quốc gia nào cũng có người thích tin tức lá cải và những tờ báo lá cải. Khác với Việt Nam ở chỗ: ngoài báo lá cải, còn có nhiều tờ báo đàng hoàng, nghiêm túc.
Chắc chắn ở Việt Nam vẫn có một bộ phận độc giả có trình độ cần những thông tin nghiêm túc, có ích, những tờ báo mạng chuyên nghiệp và đây cũng là đòi hỏi của một xã hội tiến bộ.
Nhưng chưa xuất hiện những tờ báo như thế ở quốc gia 90 triệu dân này.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Nguyễn Anh Minh từ Sài Gòn, Việt Nam.
Theo BBC
11 tháng 11, 2014
Vì sao người Việt phải sang Campuchia mới phát huy được tài năng sáng tạo thiên bẩm vốn rất cần cho đất nước ?. !!
ĐXD
Chế xe bọc thép cho Campuchia, 2 nông dân nhận huân chương
Thứ hai, 10/11/2014, 12:26 (GMT+7)
(An Ninh Quốc Phòng) - Ông Trần Quốc Hải (nông dân chế tạo máy bay ở Tân Châu, Tây Ninh) và ông Trần Quốc Thanh (con trai ông Hải) vừa được Vương quốc Campuchia trao huân chương Đại tướng quân.
>> Kỹ sư nông dân kể những trải nghiệm lái 'siêu phẩm' trực thăng
>> Nông dân hết lớp 5 chế máy xúc vượt trội máy Nhật
>> Những phát minh "độc nhất vô nhị" ở Trung Quốc
>> Máy cày mini tự chế của nông dân
Chiếc trực thăng thứ 2 của người kỹ sư nông dân Việt Nam sử dụng xăng A92, vận tốc tối đa 200 km/h, trần bay dưới 500 m và tầm hoạt động liên tục trong 2 giờ.
Quốc vương Campuchia cũng cấp giấy chứng nhận ông Hải và ông Thanh là nhà kỹ thuật sửa chữa xe bọc thép BRDM 2 và BTR60PB, ghi nhận những đóng góp của 2 người cho nền kỹ thuật của đất nước.
Trong những lần qua Campuchia để hỗ trợ kỹ thuật máy trồng mỳ tại lữ đoàn 70, ông Hải thấy một số xe bọc thép cứ bị đẩy ra đẩy vào mà không khởi động được. Ông đề nghị để mình thử sửa chữa loại xe này.
Xe bọc thép trinh sát BRDM-2 do Liên Xô thiết kế và sản xuất hàng loạt từ 1962-1989.
Ông Hải đã tự bỏ tiền túi tổng cộng 25.000 USD để sửa xe bọc thép BRDM 2 (do Liên Xô cũ sản xuất). Chiếc xe bọc thép BRDM 2 sau khi sửa có thể vận hành với 25 lít dầu diesel/100 km so với trước đây là 45 lít, tác xạ nhanh hơn, hỏa lực mạnh hơn so với trước, vòng xoay súng có thể bắn ở cự ly gần hơn so với 150 m của xe cũ, tháp pháo tự động.
Sau thành công của chiếc xe, ông Hải được lữ đoàn 70 giao sửa chữa thêm 10 chiếc xe bọc thép khác và bắt tay vào nghiên cứu chế tạo một xe bọc thép mới.
Ông Hải tự tìm kiếm cũng như mua sắm trang bị cho chiếc xe mới. Ròng rã 4 tháng trời trong đó 3 tháng nghiên cứu và một tháng chế tạo, ông đã hoàn thành chiếc xe bọc thép với tính năng mới hoàn toàn.
Theo đó, chiếc xe bọc thép mới với vòng quay tay súng có thể bắn ở khoảng cách 7 m (so với xe cũ là 150m), tháp pháo tự động và hỗ trợ quay tay, trang bị thêm hỏa lực hai bên xe…
Chiếc xe bọc thép mới do ông Hải chế tạo
Xe bọc thép mới do cha con ông Hải chế tạo
Hai cha con ông Trần Quốc Hải (nông dân chế tạo máy bay ở Tân Châu, Tây Ninh) bên chiếc xe bọc thép mới chế tạo
Gia đình ông Hải bên cạnh những chiếc xe của hai cha con ông sửa chữa và chế tạo
--
Hãy cứ cho thêm, hãy còn cho mãi
Mai ta đi nào kịp vẫy tay chào.
Mai ta đi nào kịp vẫy tay chào.
(Phạm Nhuận)
__._,_.___
3 tháng 11, 2014
Người Việt dễ ghét
( Mời các Cụ đọc bài này và ngẫm xem sai đúng ra răng. Riêng tôi thấy khá chuẩn.)
Người Việt dễ ghét
Người Việt dễ ghét
Tin tức từ quechoa
Từ trước đến nay, một cách công khai, trên sách báo cũng như trên các diễn đàn, hình như ai cũng nói người Việt…đáng yêu. Đó cũng là nhan đề cuốn sách do Doãn Quốc Sỹ viết và xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. Xuất phát từ một lập trường và động cơ chính trị hoàn toàn ngược lại với Doãn Quốc Sỹ, Vũ Hạnh, giả danh một người Ý (Pazzi), cũng vội vã viết cuốn “Người Việt cao quý”, trong đó, nội dung chính của khái niệm “cao quý” cũng là…sự đáng yêu.
Mà không phải chỉ có người Việt Nam mới nói thế. Tôi có khá nhiều sinh viên Úc hoặc người các nước khác thường đi Việt Nam. Nhiều người không ngớt khen là người Việt Nam đáng yêu. Cách đây mấy năm, có một sinh viên người Na Uy sang Úc du học. Trên đường từ Na Uy sang Úc, anh ghé Việt Nam chơi hai tuần. Lý do ghé Việt Nam chỉ có tính chất thực dụng: vật giá rẻ. Vậy thôi. Nhưng hai tuần ở Việt Nam đã làm thay đổi hẳn kế hoạch học tập của anh. Mê Việt Nam trong thời gian hai tuần ấy, sang Úc, anh quyết định chọn Tiếng Việt làm một trong hai môn học chính trong chương trình Cử nhân. Hỏi: Mê nhất ở Việt Nam là điều gì? Anh đáp: Con người. Và nói thêm: “Người Việt rất đáng yêu”.
Cách đây mấy ngày, tôi cũng lại gặp một sinh viên khác, cũng mê Việt Nam như thế. Sau khi học xong trung học, thay vì vào đại học ngay, cô quyết định nghỉ một năm để đi làm và đi du lịch. Sau khi qua nhiều nước, cô ghé Việt Nam. Cũng chỉ là một quyết định tình cờ. Thoạt đầu, định ở vài ba tuần. Nhưng rồi cô lại đâm mê Việt Nam. Bèn quyết định ở lại thêm vài tháng. Trong vài tháng ấy, cô xin dạy học trong một trung tâm sinh ngữ tại Sài Gòn. Cô càng mê hơn nữa. Về lại Úc, cô bèn quyết định học tiếng Việt để sau này có cơ hội quay sang làm việc lâu dài tại Việt Nam. Hỏi lý do, cô cũng đáp như anh sinh viên người Na Uy kể trên: “Người Việt đáng yêu”.
Người Việt đáng yêu như thế nào? Tôi chưa bao giờ có ý định làm một cuộc điều tra thật đàng hoàng về đề tài này. Nhưng từ những gì tôi nghe từ các sinh viên cũng như bạn bè, đồng nghiệp của tôi, những nét đáng yêu nhất của người Việt Nam thường được nêu lên là: vui vẻ, cởi mở và thân thiện.
Tuy nhiên, tất cả những điều kể trên chỉ là một khía cạnh. Có một khía cạnh khác, vì lịch sự, người khác ít nói; và vì tự ái, chúng ta cũng ít khi đề cập: Có vô số người chê người Việt là cục cằn, thô lỗ, ích kỷ, tham lam vặt, hay nói dối vặt, thiếu kỷ luật, thiếu lịch sự, nói chung, là…dễ ghét. Ngay chính những người được xem là “mê” Việt Nam cũng thấy điều đó. Và dĩ nhiên, với tư cách là người Việt Nam, chúng ta cũng thừa biết điều đó.
Thật ra, ở quốc gia nào cũng có những người đáng yêu và những người dễ ghét. Đó là chuyện bình thường. Tuyệt đối không có gì đáng ngạc nhiên cả. Chỉ có vấn đề là: ở những nơi khác, nét đáng yêu và đáng ghét ở con người chủ yếu là do cá tính, hay nói cách khác, do Trời sinh; còn ở Việt Nam, chủ yếu do văn hoá, hay nói cách khác, do xã hội, đặc biệt, do chế độ sinh. Ở những nơi khác, sự phân bố của những người được xem là đáng yêu và những người bị xem là đáng ghét hoàn toàn có tính ngẫu nhiên; ở Việt Nam thì khác: nó có tính quy luật để theo đó, người ta có thể vẽ lên được một “bản đồ” đáng yêu / đáng ghét của người Việt một cách khá chính xác.
Đại khái “bản đồ” ấy như thế này:
Người Việt rất đáng yêu trong quan hệ cá nhân và ở những nơi quan hệ cá nhân đóng vai trò chủ đạo: gia đình, bàn tiệc, quán nhậu, và hàng xóm. Ở những nơi đó, người Việt, nói chung, rất nhiều tình cảm và tình nghĩa. Và cũng ở những nơi đó, ít ai phàn nàn về người Việt.
Nhưng vượt ra ngoài quan hệ cá nhân thì khác. Bước vào không gian công cộng ở Việt Nam, nhất là không gian công cộng thuộc quyền nhà nước, từ uỷ ban nhân dân đến công an phường, quận, thành phố; từ bưu điện đến bệnh viện; từ bàn hải quan đến văn phòng xuất nhập cảnh, v.v…ở đâu người Việt Nam cũng dễ ghét.
Cái dễ ghét ấy có thể được nhìn thấy ngay trên các chuyến bay về Việt Nam: Theo nhận định của nhiều người vốn đi nhiều, ít có tiếp viên hàng không nào dễ ghét như tiếp viên hãng Hàng Không Việt Nam; ít có công an cửa khẩu và nhân viên hải quan nào dễ ghét như những người làm việc tại các sân bay quốc tế tại Việt Nam. Một sinh viên của tôi, người Úc, rất mê Việt Nam, và vì mê Việt Nam, cuối cùng, lấy vợ Việt Nam. Chính trong thời gian làm đám cưới, phải chạy vạy làm đủ các loại giấy tờ, từ hôn thú đến bảo lãnh vợ sang Úc, anh phờ phạc cả người. Quay về Úc, anh than: Chưa bao giờ anh thấy nhân viên hành chính ở đâu dễ ghét bằng các nhân viên hành chính ở Việt Nam.
Một người bạn khác của tôi, về Việt Nam thăm thân nhân bị bệnh, phải nằm bệnh viện, than: Chưa bao giờ thấy bác sĩ và y tá ở đâu lại dễ ghét như ở Việt Nam. Mặt mày ai cũng hầm hầm hay lạnh tanh. Người ta hỏi gì cũng quát, nạt. Họ chỉ dịu giọng được một lát khi nhận tiền lót tay. Một người bạn khác rất có thiện chí giúp đỡ Việt Nam, nhiều lần tổ chức quyên góp từ quần áo, sách vở đến máy vi tính ở Úc để chuyển về tặng cho người Việt; nhưng sau đó, đâm nản, cuối cùng, bỏ cuộc. Anh nói: “Mình mang quà về giúp, nhưng ở đâu cũng bị làm khó dễ.” Và kết luận: “Người Việt thật dễ ghét!”
Xin lưu ý: những nhân viên các loại và các cấp bị xem là dễ ghét trong công sở ấy có thể trở thành cực kỳ dễ thương với bạn bè, người thân hoặc người quen. Một viên công an mặt mày lúc nào cũng lạnh như tiền và lăm lăm đòi móc túi những người dân đến xin chứng nhận một thứ giấy tờ gì đó có thể là một người cởi mở, hào hiệp và hào phóng khi ngồi vào bàn nhậu với bạn bè. Nhưng trong quan hệ công cộng thì họ lại biến thành một người khác hẳn.
Có thể nói gọn lại thế này: Trong quan hệ cá nhân, người Việt thường đáng yêu; nhưng trong quan hệ công cộng, nhất là ở công sở, người Việt thường rất dễ ghét.
Cũng có thể nói một cách khái quát hơn: ở Việt Nam, cứ hễ có chút quyền lực, bất kể là quyền lực gì, người ta liền biến ngay thành người dễ ghét. Bản tính dễ thương đến mấy cũng thành dễ ghét. Nếu không dễ ghét vì sự hách dịch, quan liêu hay tham lam thì cũng dễ ghét vì sự chậm chạp, cẩu thả, lười biếng và vô trách nhiệm. Bởi vậy, nhiều người nhận xét: Chơi với người Việt thì vui, nhưng làm việc với người Việt thì đúng là một cực hình. Trên bàn nhậu, ai cũng thông minh, biết điều, cởi mở; nhưng quay lại bàn giấy thì người ta lại lề mề, khó khăn, tắc trách, rất ít đáng tin cậy.
Do đó, vấn đề không phải là bản tính mà là văn hoá. Mà văn hoá, nhất là văn hoá hành chính, lại gắn liền với chế độ.
Bạn có nghĩ vậy không?
Bạn có nghĩ vậy không?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
