Trang

18 tháng 9, 2015

Bài thơ giải sầu: Một khúc thơ đời

(Thân gửi Cụ BaBê và các bạn QL)

Ai ơi buồn làm chi
Ta đưa nhau về bên kia sông Nhớ*
Sông Nhớ trôi đi trong tiếng hát thầm thì
Xuôi về một thời non trẻ.
Ừ nhỉ
Nay đã thu tàn, sao vẫn còn buồn tẻ?
Vui lên, vui lên!
Ta cứ ở bên nhau trong dòng chảy triền miên
Miệt mài con chữ
Đây tiểu thuyết, văn chương
Đây phẩm bình thế sự
Đây trăng non, đây hoa lá, thơ đời…
Cuộc sống vẫn mọng căng, hoa trái vẫn sinh sôi
Dẫu bóng tối rập rình, lẩn khuất
Gieo nỗi buồn thấm sâu vào lòng đất
Tưởng đâu héo hết mầm tươi.
Ta vẫn muốn dang tay ôm trọn niềm vui
Dù rất mảnh mai, nhỏ nhẹ.
Rất lâu mới gặp nhau, sao như con cùng một mẹ
Rạng rỡ nụ cười, tay nắm chặt tay
Hát hò như tỉnh như say
Bởi đã có một thời để yêu, để nhớ...

18/9/2015
(* Mượn thơ cụ Hoàng Cầm)

16 tháng 9, 2015

Quả nhiên… chán phè

Sau nhiều tháng chờ đợi, vậy là cuối cùng mọi người cũng đã được đọc Bản Dự thảo báo cáo Chính trị tại ĐH sắp tới. Xin mời các Cụ vô xem bản tóm tắt tại nhiều trang báo điện tử chính thức của NN cùng với lời kêu gọi góp ý …
Tối qua, mỗ tôi đã háo hức đọc “nó“ với niềm hy vọng vào chút ánh sáng mới mẻ cuối đường hầm. Nhưng than ôi, xin nói thật, thất vọng luôn.

Hẵng khoan nói tới chuyện góp ý rồi người ta có nghe hay không; riêng nội dung đã thấy cũ kỹ công thức như cách đây vài chục năm. Không biết mỗ có khó tính không nhưng đọc “nó”xong, bỗng có cảm tưởng mấy cha thư ký đóng cửa lại, ngồi trong phòng lạnh để hì hục viết cho được lòng cấp trên. Những mong mỏi của chúng ta về một “ĐH đổi mới lần hai” đã không trở thành hiện thực. Đây mới là những cảm tưởng ban đầu của một cá nhân thuộc diện “những người thích nghĩ”, chưa đi sâu vào nội dung cụ thể. Xin hẹn hồi sau trao đổi cùng các cụ làng ta dăm câu ba điều.

9 tháng 9, 2015

Một hiện tượng văn học độc đáo (Phần 2)

- Trước khi tiếp tục, xin có đôi dòng ngoài lề. Dường như được “thần giao cách cảm” nên đã có sự trùng hợp thú vị giữa nội dung cuốn sách của bạn XH mà tôi đang giới thiệu với những bài vừa xuất hiện mấy ngày qua trên Blog LSQL. Đó là vấn đề về vai trò và thân phận của tầng lớp trí thức nước ta từ xưa tới nay. Có lẽ “những suy nghĩ đúng thường gặp nhau” nên cụ Ca mới đưa về nhiều bài rất đáng đọc có cùng chủ đề với cuốn “Huyền thoại...”. Qua tác phẩm, XH dường như cũng muốn chứng minh một sự thật trước nay chưa được nhấn mạnh đúng mức: Dân tộc VN không chỉ có truyền thống anh dũng hy sinh, liều mình chiến đấu chống ngoại xâm, mà còn có truyền thống sáng tạo khoa học kỹ thuật rất đáng tự hào. Nghĩa là VN không phải là “man di” như bọn Tầu thường gọi mà là một đất nước anh tài trí tuệ từ lâu. Nếu không thông minh tài giỏi thì làm sao có thể tồn tại được bên cạnh gã láng giềng to đùng luôn thèm muốn ăn tươi nuốt sống chúng ta? Tuy nhiên từ ngày xưa cho đến sau này, chiến thắng ngoại xâm rồi, gần như đời nào cũng có, tầng lớp trí thức đầy tự trọng thường bị thanh trừng, sát hại kiểu “Nhân văn giai phẩm” đầy máu và nước mắt! Thương thay!
… Một cuốn tiểu thuyết hay tất yếu phải có cốt truyện hay. Nhưng nếu kể trước ra hết thì lại thành... vô duyên, vậy tôi chỉ xin thập thò vài chi tiết sau đây. Không gian tiểu thuyết trải dài từ Thủ Đô Yên Kinh nước Đại Minh đến Thăng Long Đại Việt, vào đến Nghệ An, Đức Thọ, từ núi cao đến biển lớn, từ công nghệ chế thuốc súng khô khan đến tình yêu ướt át, thỉnh thoảng xen một chút sex khá bạo nhưng đầy chất lãng mạn thanh tao. Xin mạn phép trích một đoạn: "Dù ở đây không có hoa Ban, và mùa này hoa Ban cũng chưa nở. Nhưng mãi mãi vẫn còn đêm đầu ngọt ngào với chàng dưới gốc Ban, cây hoa ngọt năm nào. Đêm hôm đó, có ánh sao rơi vào lòng”. Tả cuộc giao hoan của đôi trai gái như thế, kể cũng là khéo lắm. Đọc rồi, ta sẽ được biết vì sao Hồ Nguyên Trừng chịu ở lại phục vụ nhà Minh, bí quyết chế thuốc súng từ đâu mà có, ai là người chế ra thiết nhuyễn đất Giao Châu, (gần như thép ngày nay), liệu có liên quan gì đến cây cột sắt ngàn năm không rỉ còn bí ẩn tại Ấn Độ? Từ đó sẽ giải mã bí mật của chữ Nôm “Kim Thiếp” được dịch sang tiếng Việt là gì? Ta cũng sẽ biết ai là cha đẻ của loại súng “thần cơ thương” linh diệu hơn hẳn vũ khí của quân Minh, Lê Lợi và chư tướng khởi binh ra sao, mưu lược của Nguyễn Chích thế nào, sau biến động thời cuộc, ai còn ai mất,      ai chạy sang tận Okinawa? v.v... Đặc biệt không thể không kể đến những chi tiết vừa là sự thật vừa như phủ một lớp khói sương mờ ảo lung linh về dòng dõi Trần Gia hiển hách mà tác giả gửi gắm vào đó tất cả lòng kinh trọng và tự hào qua từng câu chữ…
Có thể nói một cốt truyện phức tạp, đa phương, đa chiều, những sự kiện lịch sử đất nước và bi kịch cá nhân một thời tao loạn chồng chất và đan xen vào nhau, không dễ nhớ, dễ kể lại bằng lời để mua vui vài ba trống canh.
Về thủ pháp nghệ thuật: Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử VN hiếm hoi được viết theo hình thức chương hồi, tương tự như “Tam quốc chí” bên Tầu. Tất cả gồm 14 chương, 36 hồi, dài 420 trang. Mỗi chương hồi đều có lời đề dẫn bằng những câu thơ, triết lý của cha ông xưa, hoặc lấy từ kho tàng trí tuệ nhân loại, chẳng thèm sao chép Khổng Mạnh; vài ví dụ: "Phan Liêu oán giận, Quí Hữu ngại ngần, Trương Phụ điều quân, Trùng Quang thất trận”. "Non Hồng rọi bóng nước trong veo, chốn vắng nhàn cư kẻ sĩ nghèo” v.v..
Một tác phẩm văn học sống được bao lâu trong lòng độc giả lại phải nhờ vào các nhân vật được người viết dựng lên bằng bút pháp nghệ thuật riêng biệt. Bởi vậy người ta gọi là "các hình tượng nhân vật” của tác phẩm và thường dành nhiều thời gian công sức đi sâu phân tích mổ xẻ. Chẳng hạn nói đến Lỗ Tấn, ta liền nhớ đến AQ, nhắc đến Nam Cao liền nhớ ngay đến Chí Phèo v.v... Trong cuốn “Huyền thoại...” chúng ta không thấy có nhân vật chính nào xuyên suốt toàn bộ tác phẩm từ đầu đến kết thúc, kiểu như GiăngvanGiăng trong “Những người khốn khổ“, Grigori trong “Sông Đông êm đềm” v.v... Dường như XH tuân thủ một đặc điểm của tiểu thuyết chương hồi là dựng lên nhiều nhân vật cùng lúc, không tập trung vào một vài hình tượng nào... Trong số hàng trăm nhân vật của “Huyền Thoại…”, tôi rất ấn tượng với Phan Liêu, tồn tại đến chương 12 thì tử trận. Đây là một dũng tướng dòng dõi Nhà Trần, lúc đầu do bất mãn với Trùng Quang vì cả nhà bị giết oan nên Phan đã đầu hàng nhà Minh, chống lại non sông. Sau thấy quân Minh dã man tàn ác quá độ, bèn quay giáo theo Lê Lợi đánh giặc, lập nhiều công tích. Cuối cùng hy sinh tại trận tiền. Đây là một hình tượng nhân vật có tâm lý phức tạp, khá điển hình: vì thù nhà mà theo giặc nhưng bởi yêu nước mà hối cải, quay về với chính nghĩa. Thử hỏi trong những cuộc chiến tranh chống xâm lược sau này, đã có biết bao nhiêu bi kịch kiểu Phan Liêu?
… Trong thơ văn thường có hiện tượng gọi là “ý tại ngôn ngoại”. Không thể khẳng định nhưng tôi cứ trăn trở với ý nghĩ này: Kể ra câu truyện có thể kết thúc ở chương Lê Lợi chiến thắng sau 10 năm “gian lao mà anh dũng”, nhưng lại kéo dài đến đoạn Trần Nguyên Hãn, Phạm văn Xảo, Ức Trai bị hại, thành ra một kết cục buồn. Nhưng sự thật lịch sử không thể bị che dấu, nó nói lên một chân lý bất di bất dịch: Nếu sau chiến thắng, giành được quyền lực vào tay mà nhà cầm quyền bất kỳ thời nào hư hỏng, thối nát thì đất nước lại rơi vào cái họa ngoại xâm. Phải chăng đó là bài học cho chính dân tộc ta từ ngàn xưa đến nay và cả mãi mãi muôn đời con cháu về sau. Cuốn sách cũng nhờ vậy mà thêm phần giá trị.
Lời kết: Có thể nói, tác giả hơi kỹ tính, đưa vào nhiều tư liệu, trích dẫn, bằng chứng khoa học sâu sắc, tầm trí tuệ rất cao siêu nên có lẽ không phải ai cũng dám đọc và thích đọc cuốn tiểu thuyết chương hồi “Huyền thoại...”; đặc biệt là lớp trẻ. Bởi vậy công chúng đích thực của tác phẩm này sẽ không phải là một số đông bạn đọc rộng rãi mà sẽ khuôn lại trong một số đối tượng hạn hẹp nhất định. Mặc dù vậy, không thể không khẳng định: đây là một thành công đáng khâm phục của nhà văn trẻ Thâm Giang Trần Gia Ninh - thành viên làng Quế Lư, một hiện tượng văn học độc đáo hiếm hoi trong nền văn chương hiện đại VN, khi mà những cuốn sách được in ra ngày càng bị bội nhiễm bởi mùi kim tiền!
… Việc tìm đọc cuốn sách, xin các cụ làng ta hỏi thăm tác giả, kẻ thất phu này không dám hồi đáp. Ý tưởng của Cụ Ca về một cuộc hội thảo nội bộ là quá hay, xin giơ cả hai tay bái vọng!
Xin hết!
  

7 tháng 9, 2015

Một hiện tượng văn học độc đáo (phần 1)

Cách đây mấy tháng, một lần đến chơi nhà Xuân Hoài, tôi được bạn tặng một cuốn sách mới có cái tên đầy bí ẩn "Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn”. Nhìn tên sách đã thấy lạ, cứ nghĩ của nhà văn thâm nho nào mới cho ra lò tác phẩm gây sốt mà mình lạc hậu chưa biết. Đến khi nhìn trang bìa, chỗ ghi tên tác giả “Thâm giang Trần Gia Ninh”.  tôi liền giật mình, ngạc nhiên, vừa mừng vừa tự hào vì tác giả chính là ông bạn già thâm niên đang đứng trước mặt, với đôi mắt hơi sâu, ngời sáng và mái tóc trắng bạch kim thật đẹp. Lúc đó XH mới giới thiệu:

- Sách tớ viết vừa được nhà XB văn học in đấy, cậu về đọc nhá, cho vui thôi…

À ra thế, một ông TSKH có kiến thức vật lý sâu rộng đến mức đủ để đi dạy ở nhiều trường ĐH của HK, Đức v.v... nay lại nhảy một cú ngoạn mục sang lĩnh vực văn học cấp cao. Tôi nói vậy vì để được NXB Văn học in tiểu thuyết thật chẳng dễ dàng gì. Mình phải thế nào người ta mới in chứ! Sở dĩ tôi nhận ra ngay tác giả vì cái bút danh đặc biệt chẳng giống ai, cũng nhờ chút ít chữ Nho còn lưu lại trong đầu. “THÂM GIANG” là dòng sông sâu. Sau này đọc xong cuốn sách, tôi mới hiểu thêm, hình ảnh con sông Ngàn Sâu, Ngàn Suối, sông La, sông Lam ... nơi quê hương tác giả cứ tái hiện nhiều lần như những dòng ký ức sâu thẳm không bao giờ phai. “TRẦN GIA" thì rõ rồi, bạn họ Trần thuộc một trong những danh gia vọng tộc nước Đại Việt xưa. Vào thời DCCH, cụ thân sinh từng là cán bộ cao cấp của Bộ GTVT, có nhiều công lao, đóng góp cho CM. Còn chữ “NINH” thì phải suy nghĩ, tìm tòi để hiểu cho thấu ý nghĩa sâu xa... Có 2 chữ NINH, một chữ với nghĩa là “yên ổn”, không chịu khuất phục, một chữ với nghĩa là có tài nhưng bướng với quan quyền! Phải chăng đó là nét đặc trưng của tính cách họ Trần Gia từ xa xưa mà ngày nay một trong những truyền nhân đang tiếp nối?

Nhớ hồi học ĐHSP Vinh, (1960 ) một lần tôi cũng đã từng đi du ngoạn đến một số địa danh nổi tiếng ở Đức Thọ, nay đọc lại trong cuốn sách của bạn bỗng như được đắm mình trong ký ức một thời trai trẻ khó quên. Những cánh rừng hoang vu bí ẩn hai bên sông Ngàn Sâu trầm ngâm trôi xuôi, núi Trùng Quang, thành Lục Niên xa mờ, huyền bí, bến Linh Cảm thanh tịnh bình yên lúc chiều tà, nước sông La trong xanh đến đáy…Tất cả gợi cho ta cảm giác về một miền địa linh nhân kiệt, thiên nhiên, hồn người như hòa quyện vào nhau. Cũng xin thú thật, tại đó, qua một cuộc gặp tình cờ, suýt nữa tôi đã xe duyên cùng một cô giáo cấp hai xinh đẹp, thùy mỵ đến nao lòng. Sau này, tôi được biết đã từ lâu lắm, người Pháp và cac Cụ ta đã coi con gái Đức Thọ thuộc hàng “xinh nhất xứ Đông Dương” , vừa ngoan hiền vừa giỏi giang. Ấy vậy nhưng bà Nguyệt không xe cho nên duyên phận đành lỡ làng.
… Tôi háo hức đọc cuốn sách lần thứ nhất, để ngấm một thời gian, rồi đọc lần hai. Đến nay thú thật vẫn chưa thể coi là đã thấu hiểu được ý tứ của tác giả, tuy nhiên vẫn cứ xin sẻ chia cùng các Cụ trong Làng, chả dám đăng đàn ở đâu. Thêm nữa. Vẫn biết đã có nhiều người, nhiều bài viết về cuốn tiểu thuyết của XH nhưng tôi cố tình chưa đọc của họ để khỏi mang tiếng “ăn theo, nói leo”. Tôi muốn giữ cho mình những cảm xúc riêng và cách nhìn riêng không giống ai về một tác phẩm của người bạn của chúng ta, thông minh đa tài nhưng không chịu “tiến thân bằng đầu gối”. Bởi vậy, nếu bài viết này có chỗ nào không chuẩn, cũng xin tác giả và bạn đọc lượng thứ.

Theo nguyên lý phê bình văn học, để đánh giá đúng một tác phẩm,trước hết người ta cần xác định chính xác thể loại của nó. Vậy cuốn tiểu thuyết của XH thuộc thể loại nào?

Căn cứ vào từ “Huyền thoại” có thể có người cho đây là một tiểu thuyết dã sử, hư cấu (bịa đặt) căn cứ vào một vài câu chuyện hoang đường do nhân dân tưởng tượng ra, không có trong chính sử. Còn tác giả lại cho đây là một cuốn “tiểu thuyết khảo luận, học thuật” ( Cẩn bạch)... Tôi thì cho rằng đây thật sự là một tiểu thuyết lịch sử. Bởi lẽ tác giả đã bám rất sát các sự kiện lịch sử ,các nhân vật có thật được chứng minh, tra cứu công phu chi ly đến ngày giờ, được sử sách ghi chép, mọi người đều biết. Thí dụ: quân Minh đánh chiếm nước Đại Ngu của Hồ Quí Ly, Hồ Nguyên Trừng chế súng, bị bắt về Yên Kinh, Vương Thông, Mã Kỳ, Liễu thăng, Lê lợi, Trịnh Khả v.v... Dĩ nhiên những sự kiện, con người có thật trong lịch sử phải được “văn học hóa” thành những hình tượng nhân vật có hình, có hồn, thông qua thủ pháp sáng tạo mạnh bạo mới có thể sống được trong tiểu thuyết. Ấy là cái khó và cũng là cái tài của người viết vậy. Nếu đọc kỹ những chú thích trong sách, nhiều khi ta có cảm tưởng đây là một cuốn khảo cứu khoa học lịch sử, địa lý, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục v.v... rất nghiêm túc, chính xác đến từng chi tiết. Qua đó, hiểu biết của người đọc được mở rộng rất nhiều , kể cả những nhà thông thái! Sách dã sử không cần và không thể làm vậy.

Về đề tài,có thể nói đây dường như là cuốn tiểu thuyết văn xuôi đầu tiên của văn học VN lấy bối cảnh một giai đoạn lịch sử đầy khổ đau, vừa oai hùng vừa bi tráng của dân tộc ta thời phong kiến. Đó là thời kỳ cuối nhà Hồ, Nhà Minh thôn tính, cuộc khởi nghĩa Lê Lợi và những năm đầu nhà Hậu Lê dựng lại cơ đồ…

Vì sao tác giả lại chọn giai đoạn này để ngòi bút tung hoành trên trang giấy? Hẳn phải có những lý do riêng mà chúng ta chưa biết nhưng theo tôi có thể đưa ra giả thiết sau.

- Tuy chỉ thống trị nước ta 10 năm (1407-1417) nhưng đế chế nhà Minh Trung Hoa là một trong những kẻ xâm lược tàn ác nhất, thâm độc nhất, chủ trương hủy diệt dân tộc Việt, trí tuệ ,văn hóa Việt tệ hại nhất. Không kể những cuộc xâm lăng khác, chỉ kể từ thế kỷ 12, quân Nguyên Mông tràn sang 3 lần, mới chỉ kịp đốt phá xóm làng đã bị đuổi về nước. Sang thế kỷ 18, quân Thanh ào đến, cũng chưa kịp cướp bóc đã bị Quang Trung đánh cho tan tác phải ôm đầu máu rút chạy. Còn nhà Minh thì trong 10 năm chiếm được nước ta đã chủ trương triệt hạ dân tộc Việt đến cùng, bắt hoặc giết hết người tài, đốt hết sách vở, văn bia, công trình văn hóa v.v... hòng đồng hóa dân tộc ta. Bởi vậy cuộc chiến đấu vì tồn vong của Tổ quốc diễn ra vô cùng khốc liệt, không khoan nhượng, với đầy rẫy xung đột kịch tính từ thù trong đến giặc ngoài, từ quí tộc cũ đến giai tầng mới, từ người dân thường đến tâng lớp trí thức, từ xã hội đến gia đình, từ thời chiến đến thời bình, v.v... Viết để lên án tội ác của bọn xâm lược phương Bắc thời xưa cũng đồng nghĩa với một lời cảnh báo về những ảo tưởng đâu đó về thiện chí của chúng trong thời nay. Việc đó hẳn cần lắm, chẳng phải thích hay không thích.

- Hơn nữa, chính trong giai đoạn này, lòng yêu nước và tài năng đức độ của những nhà trí thức đương thời, trong đó có gia tộc họ Trần đã được tỏa sáng đúng lúc, góp phần làm nên những chiến công hiển hách sử sách còn ghi. Đặc biệt là những đóng góp của họ vào sự phát triển khoa học công nghệ chế tạo vũ khí khí tài đánh địch. Đó chính là mảng đề tài rất mới mẻ, độc đáo mà tác giả dụng công khai thác và chép lại để hậu duệ Trần Gia biết, nhớ và noi theo tiên Tổ. Việc ấy há chẳng phải rất nên làm ư?

Bởi thế,tác giả chia sẻ trong phần Cẩn bạch “quyển sách này nhắc cho hậu thế về những thân phận con người,về số phận bi hùng của những anh tài trí tuệ đất Việt xưa trong thăng trầm của lịch sử.. “
Thiết nghĩ đây cũng chính là chủ đề chính làm nên giá trị của tác phẩm.

4 tháng 9, 2015

Vượt lên nhân cách

KyVinhHung: Một người bạn gửi qua maill cho tôi bài viết mới của nhà nghiên cứu Ngyễn Khắc Mai. Tôi đọc một mạch, thấy có nhiều ý rất mới, rất thẳng,rất hay về ĐH 12 sắp tới . Xin cóp về trình các Cụ nhâm nhi. Bài hơi dài nhưng do tôn trọng tác giả nên không thể cắt bỏ hoặc tóm lược được đoạn nào. Mong thông cảm.
----------------------

Nguyễn Khắc Mai - Vượt lên nhân cách “Homo-Robotus" [1] để tiến vào Đại Hội XII


Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai.

Từ rất lâu trong lịch sử, người ta đã nhận thấy xuất hiện trong xã hội, đặc biệt là trong tầng lớp kẻ sĩ, những mẫu hình người của “cộng thể”. Họ ăn nói cùng một kiểu, hở một chút là “Tử viết Thi vân” (Cụ Khổng dạy rằng, Kinh thi nói…) Từ vua cho chí quan đều nghĩ, nói theo một kiểu, họ bị lịch sử kết án là hủ nho (nhà nho lạc hậu, thối nát - hủ là nát). Họ là sản phẩm của một nền quân chủ Tống nho, là sản phẩm của một nền giáo dục “chi hồ dã giả”, giáo điều tệ hại, mọi quy chiếu đều lấy Trung Hoa làm chuẩn đích, mọi quan hệ đều lấy “thánh chỉ” là giường mối…

Không ngờ, ngày nay tuy không thể còn hủ nho, nhưng lại nảy nòi một hạng ngừời được gọi bằng một tên mới là “hủ Mác”. Hủ Mác là những kẻ mồm tụng Mác mà không biết Mác là ai là gì, cứ tụng như vẹt, lừa mình dối người trâng tráo. Quan sát mấy Đại hội chuẩn bị cho Đại Hội XII của một số tổ chức đảng cấp huyện trở lên, đáng chú ý trong đó nhũng Đại Hội của một số Bộ Ngành, không thể không liên tưởng tới cái hiện tượng xưa kia là hủ nho, và nay là hủ Mác. Nhiều người trong số đại biểu là trí thức có bằng cấp, học hàm học vị hoành tráng. Nhưng không hề thấy đưa tin đã có những ý kiến sắc sảo, cấp tiến, dám sống khác thời phong kiến, dám vượt lên dẫu là: “thánh chỉ”, để mổ xẻ tận nơi những căn bệnh trầm kha của đất nước của xã hội do chính họ, chính cái thể chế do họ điều hành gây nên. Có thể vẫn còn một đa số hủ Mác, nhưng sao không có một Gallilee dám nói dù sao trái đất vẫn quay quanh mặt trời, sao không có một “minh triết” rất hồn nhiên nói toẹt “vua đang cởi truồng”. Mặc dầu chỉ thị của BCHTW vẫn kêu gọi mở rộng dân chủ, góp ý thẳng thắn, nhìn rõ sự thật. Các ý kiến trong mấy đại hội đã biết vẫn chỉ là giả sự thật. Thậm chí có đại hội rất khôn đã hoàn toàn không có ý kiến gì, khiến truyền hình thấy chướng đã phải làm một phóng sự rồi mời ông tổng biên tập tạp chí Cộng sản đến phỏng vấn.

Người ta đang cố ý nhầm lẫn đại hội đảng, tức là một sinh hoạt chính trị của một chính đảng, với hội nghị công nhân viên chức. Thì đấy, mấy đại hội ngành chủ yếu cũng chỉ là bàn những vấn đề kỹ thuật, nhiệm vụ của ngành, phương thức hoạt động của ngành. Tôi không cho rằng những việc ấy là vô bổ. Vấn đê là nếu chỉ như thế, thì cần gì tiến hành Đại Hội, cứ mở hội nghị thật dân chủ của công nhân viên chức là xong. Một Đại Hội chính trị của một đảng chính trị cầm quyền phải khác. Đặc biệt là với Đại Hội nhiệm kỳ toàn quốc, hơn nữa, đây là một Đại Hội của một chu kỳ, mà Dân Nước đang đứng trước một khúc quanh mới của lịch sử. Không được lảng tránh những câu hỏi lớn đang được xã hội nêu ra.

Đành rằng, không thể chối bỏ những thay đổi đáng kể trên quê hương mấy chục năm qua, nhưng những thành tựu ấy có xứng với cái giá của dân tộc phải trả không. Cớ gì cũng ngần ấy thời gian, ngần ấy công sức đầu tư mà thiên hạ quanh ta đã làm được còn chúng ta thì mọi chuyện đều nham nhở, chưa đên đầu đến đũa gì. Điều chắc chắn là những kết quả ấy không xuất phát từ chủ nghĩa Mác-Lê, kể cả tư tưởng Hồ chí Minh. Nếu có mối quan hệ nào thì chính những nhân tố ấy cùng với phương thức lãnh đạo của đảng, đã khiến luật lệ không đồng bộ, hệ thống cầm quyền chồng chéo lẫn nhau, nạn tham nhũng không chỉ là khuyết tật của hệ thống mà chính là thuộc bản chất của hệ thống, một khi đã độc quyền thì không tham nhũng mới là dị thường. Thật ra mối quan hệ của chủ nghĩa Mác Lê, đường lối của đảng với tình trạng có đôi chút phát triển hôm nay, chỉ là quan hệ trùng hợp hình thức, giống như chuyện ngụ ngôn La Fontaine: một con nhặng bay vo ve bên cổ xe ngựa đang lên dốc. Khi lên đến đỉnh, con ngựa đứng nghỉ, mồ hôi nhễ nhại, còn con nhặng thì cho rằng nếu không có mình vo ve thì cỗ xe không lên được đến dốc!

Đảng cộng sản Việt Nam, tuy luôn xưng mình có tư duy biện chứng, thực chất chỉ là tư duy hình thức, bởi phép biện chứng bao giờ cũng nhìn nhận mỗi thực trạng xã hội, con người từ nguyên nhân đến kết quả từ chiều sâu, cốt lõi của vấn đề. Vì thế mới có câu ca dao nhận xét và phê phán rất tinh tế: “Mất mùa là tại thiên tai. Được mùa nhờ có thiên tài đảng ta!” Hầu hết nhũng văn kiện cũng như phát ngôn của nhũng người lãnh đạo luôn luôn chỉ là cái công thức tức là cái vỏ mà không bao giờ có ruột, những khẩu hiệu vô hồn vô cảm vô bổ! TS Nguyễn Vi KHải đã thử làm một tổng hợp 3,4 Đaị hội của đầu thế kỷ 21 đã khẳng định chỉ có tráo đổi chữ nghĩa, như đặt dân chủ ở sau rồi đưa lên trước, những đánh giá chỉ thay đổi vài định ngữ, nhiệm vụ thì cũng sao chép na ná như nhau. Những vấn đề to đùng của Dân, Nước, như sự lệ thuộc nguy hiểm với Trung Hoa, nguyên nhân lỗi hệ thống nào khiến VN lạc hậu xa so những nước lân bang… không thấy đề cập đúng tầm, có trách nhiệm. Gần đây có thể là nhằm định hướng cho các đại hội, đã có mấy bài báo tràng giang đại hải của một số VIP, thấy đề cập nào đổi mới nền quản trị quốc gia, nào kiểm soát quyền lực, nào nâng cao trí tuệ, thúc đẩy khí phách, nào hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xhcn có sự quản lý của nhà nước, v…v, không thống kê xiết. Tuy nhiên vẫn chỉ là công thức, chưa thấy rõ nội dung của những vấn đề to lơn ấy.

Trong Dự thảo Báo cáo chính trị được đưa xuống Đại Hội XII các cấp, ban lãnh đạo không dám nhìn vào sự thật, mà cũng không thấy đưa tin các đại biểu, trong đó nhiều trí thức và cán bộ cấp TƯ của đảng đưa vấn đề ra thảo luận. Như đã nhận xét, họ chủ yếu bàn những vấn đề của ngành, của địa phương. chẳng khác gì một cuộc họp Hội đồng nhân dân hay hội nghị công nhân viên chức.
Có năm văn đề cốt tử của sự còn, mất, phục hưng, phát triển hay tiếp tục thân phận lệ thuộc, gia công hay nói một cách “cười ra nước mắt” như chị Phạm Chi Lan: Việt Nam là nước không muốn phát triển!

Thứ nhất: Tại sao khi dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, thì chủ quyền bị xâm hại, nhiều vùng biên giới và hai đảo bị Trung Hoa xâm lược, cưỡng chiếm. Sự lệ thuộc vào Trung Hoa về chính trị, kinh tế văn hóa, an ninh quốc phòng, thậm chí cả đối ngoại ngày càng nghiêm trọng!?Đường lối đối ngoại lệ thuộc Trung Hoa đã gây nên những tiêu cực, tích cực gì cho thế phát triển VN?.
Trong tình hình thế giới hiện nay có nhất thiết theo cái triết lý “độc lập dân tộc gắn với CNXH không? Đa số các dân tộc hiện nay trên thế giới đâu cần cái triết lý ấy. Cái nhân tố CNXH có thật là lẽ đúng và tốt không? Cớ sao TBT Nguyễn Phú Trọng vừa tuyên bố “trăm năm nữa cũng chưa có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở nước ta”, lại vẫn ép đa số đảng viên trong QH thông qua HP tiến lên chủ nghĩa xã hội. Điều ấy có phải là chính trị ma giáo hay không. Điều thật kỳ lạ là một Dân tộc vốn xưng văn hiến đã lâu, một chính đảng cầm quyền luôn xưng mình là “đạo đức”, là “văn minh” (chữ của HCM) mà không dám để cho nhân dân được quyền tự do học thuật, tranh luận, nghiên cứu cho ra ngô ra khoai cái chủ nghĩa “mác-lê”, nếu quả thật có chút gì là trí tuệ thì giữ lấy, nếu chỉ là “hư hỏng, cũ kỹ” (cũng là chữ của HCM) thì cương quyết loại bỏ. Cả một Ban Tuyên Giáo, một Hội đồng lý luận TƯ không dám đối thoại với người dân trong xã hội. Văn hóa đối thoại của họ hủ lậu, cũ rích cả hai ngàn năm.[2] Có phải mô hình của chế độ ban đầu là “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến thẳng, tiến vững chắc lên cnxh”, nay là chế độ “Cộng Hòa XHCN” với cái triết lý được điều chỉnh cho đỡ “quê” là “định hướng xhcn”, mà nhiều ủy viên TƯ đã ngậm ngùi “không biết có hay không mà tìm kiếm!” là tác nhân chính của mọi trì trệ, hư hỏng, cũ kỹ của VN, một trì trệ, hư hỏng cũ kỹ kéo dài cả ngót thế kỷ. Hơn nữa, ta cứ đeo đuổi một chế độ mà một đa số nhân loại tiến bộ đã lập tòa án kết tội nó là vô đạo, là tội ác phản nhân loại.Ta đeo đuổi một thứ thể chế mà nhân loại đã lên án thì hay ho nỗi gì vinh hạnh nỗi gì? Nay, các đảng viên đại biểu dự Đại Hội phải bàn cho đên nơi dến chốn. Người dân VN không đần độn, lao động VN học nghề nhanh có tay nghề tốt, tố chất con người Việt có nhiều mặt ưu tú, truyền thống văn hóa nếu gạt qua những yếu tố tiêu cực của xã hội tiểu nông, thì những giá trị nhân văn và đạo đức của người Việt đủ để làm nền móng cho những thăng hoa phát triển mới hiện đại, không thua kém gì những dân tộc quanh ta, tài nguyên không giàu có như thiên hạ, nhưng cũng rất dồi dào,đặc biệt là vị trí địa-kinh tế lại khá thuận lợi cho thị trường toàn cầu hóa.Thế thì cái gì khiến VN nên nỗi bi thảm như ngày nay, nếu không nói đó là do thể chế chính trị và đội ngũ quan chức cộng sản đã trở nên ngày càng hư hỏng cũ kỹ, như chính Hô chí Minh từng dự báo. Đại Hội XII hãy tiến hành một cuộc chiến xóa bỏ hư hỏng cũ kỹ như Hô chí Minh từng di chúc. Đây chính là thời cơ thích hợp nhất. Bỏ qua cơ hội này Đảng Cộng sản VN sẽ trở thành tội đồ của Dân tộc trước lịch sử.!

Thứ hai: Đại hội hãy tranh luận và thảo luận một cách có văn hóa và đi đến những kết luận sau:
-Thay đổi thể chế chính trị. Một thể chế chính trị tốt và đúng, phù hợp với tiến tình lịch sử hiện đại là thể chế cộng hòa đại nghị với mô hình Nhà nước Tam quyền phân lập thật sự (chứ không thể như quan niệm lừa mị, đánh tráo khái niệm chỉ là sự phân công của ba cơ quan quyền lực). Nhà nước pháp quyền ấy chỉ là một thành tố quan trọng trong nền quản trị quốc gia tân tiến hiện đâị. Bên cạnh Nó là nhân quyền và dân quyền được hình thành có chất lượng, là nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, không cần thêm một cái đuôi nào để dễ bị xuyên tạc và lợi dụng, một nền kinh tế mà quyền sở hữu từ đất đai, nhà xưởng, ngân hàng, tín dụng do tư nhân tức là những công dân của Nhà nước làm chủ[3]. Cái gọi là chủ đạo nền kinh tế thì không phải là bất kỳ một hình thức sở hữu nào mà phải là nhũng đơn vị, những ngành mũi nhọn đủ năng lực dẫn dắt nền kinh tế dân tộc phát triển. Đề cao dân trí với nền báo chí, xuất bản tự do, tôn trọng tự do ngôn luận, tư tưởng, thực hiện cuộc cải cách giáo dục theo triết lý dân tộc, khai phóng, khoa học và dân chủ. Đề cao ba lớp người mới là chủ thể của xã hội, chúng tôi gọi là”Tam Bảo Mới” của Dân tộc. Đó là lớp Trí thức hiền tài (của tất cả các lĩnh vực) là “Doanh nhân cấp tiến”,và Chính khách nhân văn. Họ mới chính là nhóm người chống đỡ cho tòa nhà Việt Nam hiện đại và hậu hiện đại. Cái gọi là nhà nước công nông đầu tiên ở Châu Á thực chất là sự tuyên truyền lừa mị không có chút giá trị nào.

Thứ ba: Nền độc lập thống nhất mới của dân tộc phải thực sự xây dựng trên đạo lý hòa giải và kết tụ dân tộc. Hãy tuyên bố tính hợp pháp của Chính Phủ Việt Nam Cộng hòa, xây dựng một nhà nước mới,tuyên bố sự kế thừa những Chính phủ từng thực thi quyền lực và có công với dân với nước từ 1945 đến nay. Có thế Dân tộc Việt Nam mới có đầy đủ cơ sở pháp lý để tranh đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền biển đảo. Phải thành tâm thừa nhận những sai lầm của cải cách ruộng đất, cải tạo công thương ở cả hai miền, đặc biệt là sự đối xử không theo đạo lý của dân tộc đối với người dân và cán binh của chính phủ VNCH. (Sau đó sẽ tiến hành thương thảo nhân văn thân ái để đền bù danh dự cho những thương tổn). Làm được điều này Việt Nam sẽ nhân lên gấp bội nội lực của mình cả tinh thần và vật chất. Đây chính là Sự nghiệp xây dựng một đường băng hiện đại cho sự cất cánh của Việt Nam. Hòa giải, hóa giải, hòa hợp dân tộc phải trở thành đạo nghĩa, đạo lý chính trị mới của dân tộc.
Thứ tư: Các đại biểu của Đại hội cương quyết vứt bỏ cái nhân cách Homo- Robotus, thật sự làm một người công dân Việt Nam có nhân cách tự do. Được như thế thì Trí tuệ chân thiện mỹ sẽ xuất hiện trở lại, vượt qua được cái mà nhà Phật gọi là “vô minh” (tức là ngu muội, u mê ám chướng), cái bản ngã minh triết được hồi sinh, cái khí phách mới của dân tộc sẽ phục hồi tráng kiện làm nên một sức mạnh tinh thần và đạo đức, làm nên “nhóm định hướng xã hội” mới, tiến bộ, nhân văn, tâm hồn trong sáng, nhân cách cao đẹp có đức, có tài có trí để kiến tạo một nền Dân chủ, một nền văn hóa -chính trị mới, thực hiện sứ mệnh canh tân, thay đổi Đất Nước, xã hội, đoàn tụ dân tộc, làm cho Việt nghĩa là siêu việt lên, phục hưng và phát triển, hạnh phúc và tự do.

Thứ năm: Là một Đại Hội kết thúc một chu kỳ sản nhiều công nhưng vô tích. 85 năm nhiều hành động, nhiều hy sinh nhưng cũng nhiều tội lỗi.Thực tế ngày càng chứng minh lời nói thiện của một chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục là Cụ Nguyễn Hữu Cầu vào 1946, trước khi mất: “Ngày nay chúng ta đã quá tây, quá tàu, chúng ta là lũ giáo điều ba rọi, là những kẻ xã hội chủ nghĩa độc tài”[4]. Hồ chí Minh trước lúc mất cũng để lại di chúc phải mở cuộc chiến đấu chống lại những hư hỏng cũ kỹ.Học giả, nhà yêu nước Trần Trọng Kim trong thư gởi Hoàng Xuân Hãn năm 1947 cũng khẳng định "Việt Minh công chi thủ, tội chi khôi” nghĩa là Việt minh công to mà tội cũng hàng đầu!

Đại hội này phải là Đại Hội cải tổ Đảng. Về lý thuyết, chủ nghĩa Mác Lê là sai lầm, nó không nhất quán, giữa Mác và Lê Nin không có gì giống nhau cả. Lê nin chỉ nhai lại cái bã mà Mác đã nhả bỏ từ lâu. Những tư duy hợp lý của Mác thì không hề có trong cái gọi là chủ nghĩa mác lê. Về lý tưởng thì Mác đã từ bỏ nó, coi nó là sai lầm. Mác đề cao báo chí tự do, lên án chế độ kiểm duyệt, thậm chí coi nó là quái thai, là thây ma được tẩm nước hoa! Mác chủ trương đa nguyên, đa đảng thì cộng sản VN ăn phải bả Lê-nin chống lại, thậm chí có hai đảng “đồng cốt” do Hồ lập ra thì cũng bị xóa sổ. Ngay cái tên đảng cộng sản cũng là dịch sai. Bởi cái tên mà Mác và Ăng Ghen đặt là Komunism chỉ có nghĩa là chủ nghĩa cộng đồng, không có từ tố nào là sản cả!

Phải đặt lại tên đảng cho chính danh, phải từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê cho phải đạo. Phải trở về đường lối vì Dân, vì Nước cho chính nghĩa. Lấy dân tộc, nhân dân làm chủ thể của đất nước và xã hội, coi công nông là đối tượng để phục vụ. Từ bỏ cái lý thuyết giai cấp vô sản là giai cấp lãnh đạo. Bởi thân phận của cái gọi là giai cấp vô sản thì Mác đã quan niệm lúc đầu vào (1884) trong Tuyên ngôn là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản. Nhưng vào cuối đời Mác đã dự báo chính xác thành hiện thực cay đắng ở Nga, Tàu, Việt Nam, Triều Tiên, Cu ba và ở tất cả những nước theo cộng sản, rằng “một khi giai cấp vô sản cướp được chính quyền, họ sẽ thúc đẩy thành lập một chính quyền ủy trị, để một nhóm người tự ứng cử và bầu cử nhằm cai trị họ (GCVS). Ngay lập tức họ sẽ rơi tõm vào sự dối trá và lệ thuộc. Sau một hồi say sưa hưng phấn cách mạng, trong một kiểu nhà nước mới, họ sẽ bừng tỉnh thấy mình là nô lệ, con rối và con mồi cho những tham vọng mới. [5]

Đai Hội XII phải là đại hôi xét lại. Phải xét lại toàn bộ từ học thuyết, đường lối, chủ trương và lỗi lầm, hệ thống tổ chức, sinh hoạt dân chủ trong đảng, phương thức hoạt động… từ trước cho đên nay. Nói như Mác là phải sám hối vì sám hối thật tâm thì mới có cơ cứu rỗi.

Phải từ bỏ nguyên tắc sai lầm tiếm quyền là “tập trung dân chủ”. Hãy lắng nghe lời cảnh báo của Ăng Ghen: “Phải chấm dứt ngay một tình hình tế nhị. cớ sao các đảng viên thường, thay cho coi các quan chức của đảng là đầy tớ để bảo ban, phê bình, thì lại coi họ như một đám quan liêu không bao giờ mắc sai lầm”. Dự báo hoàn toàn chính xác và hiện thực đối với tất tật các ban lãnh đạo cộng sản của tất cả các nước!

Vì thế phải thay đổi công thức chọn cán bộ lãnh đạo của Đại hội, theo phương châm “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Xin chớ theo lối xôi thịt của làng xã lạc hậu ngày xưa.Tất cả các ủy viên TƯ nhất là các vị định ứng cử vào Bộ chính trị, ban Bí thư nhất thiết phải trình cương lĩnh và chương trình hành động của mỗi người trong nhiệm kỳ mới hãy học tập việc tranh cử của các nền chính trị hiện đại. Các ủy viên TƯ, ủy viên Bộ chính trị nhất thiết phải được nhân dân nhận xét và phê duyệt, vị họ sẽ đóng vai người lãnh đạo đất nước. Mỗi người phải chọn một ngành để ứng cử làm lãnh đạo ngành ấy. Chúng ta phải thay đổi để có thể chọn được người Thao Lược chứ không phải kẻ “đồng hội, đồng lõa theo nhóm lợi ích cánh hẩu, con ông cháu cha”. Nhóm tinh hoa này nhất định phải chọn ra, càng tinh càng tốt, để họ sẽ cùng trí thức nhân sĩ xã hội sau Đại Hội có thể hợp tác tiến hành xây dựng cương lĩnh phát triển đất nước trong tình hình mới, sửa đổi luật, sửa đổi Hiến pháp để có một Quốc hội tinh hoa, chuyên nghiệp.

Có một vấn đề pháp lý của đảng cần phải đặt ra. Hiện nay trên nước ta, mọi cá nhân, tổ chức, thiết chế xã hội đều được điều tiết bằng Hiến định và luật định. Duy chỉ có đảng CS là đang hoạt động phi pháp,vì chỉ có một điêu 4 mà cũng chưa có văn bản nào của quốc hội giải thích cụ thể những câu chữ ấy.Cần một đạo luật về tổ chức và hoạt động đảng phái chính trị của Việt Nam. Có thế, những chức năng nhà nước của đảng mới chính thống.Chúng ta không thể tham gia quản trị quốc gia theo lối đã hư hỏng cũ kỹ và vô thiên vô pháp được nữa.

Nếu làm được như vậy, các vị sẽ có công lớn, thúc đẩy cho lịch sử Việt Nam sang trang mới. Bỏ lỡ thời cơ này, các vị sẽ đời đời mang tiếng là loại nhân cách homo-Robotus, là kẻ thiểu trí, thiểu khí phách, tội đồ của lich sử, ô danh, nhục nhã vô cùng.



16 tháng 8, 2015

Độc đoán chuyên quyền và thực thi dân chủ

Tham vọng quyền lực và sự tha hóa
 Ts. VŨ NGỌC HOÀNG

Quyền lực làm tha hóa con người nhanh nhất, nhanh không thể tưởng nổi. Chỉ cần sau một cuộc bỏ phiếu hoặc sau một quyết định phong chức, người có quyền lực ấy có thể bỗng nhiên khác hẳn, họ bắt tay theo kiểu khác, chào hỏi kiểu khác, dáng đi bệ vệ hơn, ra oai hơn, cách nói cũng vậy, thấy phát ngượng lên nhưng chính họ không biết, cứ như là việc đương nhiên vậy, nghĩa là nó đã thấm rất nhanh vào máu, thành phản xạ tự nhiên.

Công việc quan trọng bậc nhất của Đảng hiện nay là phải nghĩ ra các cơ chế để đảng viên, nhân dân và pháp luật kiểm soát những cá nhân được giao quyền lực. Khi quyền lực gắn với chữ “tham” thì không thể gửi trứng cho ác, đem sự nghiệp của dân của nước trao vào tay họ. Đó là ý kiến của TS Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên T.Ư Đảng, Phó trưởng ban thường trực ban Tuyên giáo T.Ư trong bài viết gửi riêng báo Thanh Niên.

Thanh Niên Online xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc:

Trong buổi bình minh của nhân loại, khi con người còn hoang sơ, cuộc sống còn phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, người ta đã nghĩ và tin rằng, quyền lực thuộc về tự nhiên, do các thần linh nắm giữ. Sau đó, nhờ trình độ nhận thức tăng lên, con người đã dần dần nhận ra và phân biệt được sức mạnh của tự nhiên và sức mạnh của con người biết chế ngự tự nhiên và quản lý xã hội. Từ đó quyền lực bắt đầu xuất hiện.


Quyền lực, khởi nguyên là của nhân dân, của cộng đồng. Không phải cá nhân ai bỗng nhiên có được. Khi mọi người tự nguyện đồng lòng tôn vinh ai đó là thủ lĩnh, là người phụ trách, thay mặt họ để xử lí công việc chung, thì đồng thời kèm theo, trao quyền lực cho người ấy. Bắt đầu từ đó, người thủ lĩnh, người phụ trách có quyền lực. Về bản chất thì quyền lực không phải của họ, mà họ được nhân dân trao quyền, ủy quyền, để sử dụng cho mục đích chung.

Khi quyền lực được trao cho người có nhân cách tốt thì nó được sử dụng đúng mục đích, bảo vệ và đem lại lợi ích cho cộng đồng. Người xưa có câu “Đức trọng, quyền cao”. Câu ấy theo cách tôi hiểu là trên cơ sở của đạo đức, nhân cách, mà trao quyền lực. Người có đạo đức là mười thì có thể trao quyền lực đến bảy, tám, tức là trao quyền lực ít hơn, càng không trao vượt quá. Người có đạo đức ít, thấp mà trao quyền lực nhiều, cao thì vô cùng nguy hiểm, giống như “gởi trứng cho ác”, sai lầm, tai họa là nhất định không tránh khỏi. Theo đó, người có chức quyền càng lớn thì đạo đức, nhân cách phải càng lớn hơn. Không biết từ bao giờ, người ta lại nói chệch sang là “chức trọng, quyền cao”, tức là trọng chức tước chứ không phải trọng nhân cách.

Khi quyền lực trao cho người không đủ nhân cách, thì nó trở thành công cụ phục vụ cho lợi ích cá nhân, “lợi ích phe nhóm”, thậm chí là công cụ để làm việc ác. Trong lịch sử thế giới và Việt Nam, đã có nhiều trường hợp nhân dân trao quyền và mất quyền, trở thành đối tượng cho quyền lực cai trị. Như vậy quyền lực có thể đem lại công bằng, hạnh phúc và cũng có thể đem lại tai họa, sự đau khổ cho con người. Điều đó phụ thuộc vào việc quyền lực được trao vào tay ai.

Trong thực tế đời sống xã hội có nhiều trường hợp quyền lực của một cộng đồng bị người khác (hoặc một nhóm người) đã dùng thủ đoạn tước đoạt, tranh cướp mất.

Quyền lực vốn là của nhân dân, nhưng trong chế độ nô lệ, các chủ nô đã chiếm giữ và sử dụng, để cai trị xã hội, biến nhân dân (vốn là chủ nhân của quyền lực) thành những người mất quyền, phải làm nô lệ. Trong chế độ phong kiến, quyền lực của nhân dân rơi vào tay vua và tập đoàn phong kiến, còn nhân dân thì nói chung không có quyền, họ chỉ có một số quyền ít ỏi nào đó do nhà vua ban cho. Ngay cả đến quyền sống cũng không có, ý vua là ý trời, vua đại diện cho pháp luật, muốn giết ai thì giết, thậm chí giết luôn cả dòng họ, cả mấy đời (tru di tam tộc, tru di cửu tộc).

Thời kỳ đầu của chế độ tư bản, quyền lực do giai cấp tư sản – nhất là giới tài phiệt chi phối, chiếm giữ và sử dụng. Ngày nay, CNTB hiện đại đã tiến bộ rất nhiều theo hướng dân chủ, tuy vậy, nhìn chung, giới tài phiệt ở các nước vẫn còn chi phối đáng kể quyền lực. Riêng ở những nước tư bản phát triển nhất, tính chất xã hội hóa cao, họ thực hiện khá tốt vấn đề dân chủ, thậm chí hơn nước ta nhiều, thì nơi đó, phần đáng kể quyền lực đã thuộc về nhân dân, và họ từng bước hình thành các nhân tố của một xã hội mới, đó sẽ là xã hội XHCN.

Điều vừa nói, chính C. Mác đã dự báo. Việc ở một số nước TBCN phát triển hiện đại dân chủ hơn ở nước ta là do trình độ phát triển. Dân chủ là một vấn đề khách quan, tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, nhất là trình độ dân trí, quan trí và sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.

Quyền lực luôn có mặt trái là nó làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng quyền lực nếu như họ không đủ độ chín về nhân cách. Quyền lực càng lớn thì nguy cơ tha hóa càng nhiều. Người giữ chức vụ càng cao trong bộ máy quyền lực thì đối mặt với nguy cơ càng lớn về sự tha hóa. Một người khi giữ chức vụ thấp hơn thì nguy cơ tha hóa ít hơn và ngược lại.

Mặc dù vậy, nói chung phần lớn quan chức đều thích có nhiều quyền lực. Không có gì hấp dẫn, cám dỗ bằng quyền lực. Nó là “ma túy” gây nghiện, là “ma quỷ” xui khiến. Khi có quyền lực là có thể có gần như tất cả, nếu muốn. Vì vậy quyền lực hấp dẫn bằng các thứ hấp dẫn khác cộng lại. Người ta đam mê nó, suốt ngày nghĩ về nó, dùng mọi thủ đoạn sống chết để giành và giữ lấy nó, dù phải mất nhân cách, dù phải làm việc ác. Có quyền lực rồi thì muốn có quyền lực lớn hơn, lớn rồi vẫn chưa đủ lại muốn lớn hơn nữa. Cứ thế, gần như không có điểm dừng, không cần biết có nhiều quyền lực để làm gì. Bản thân việc ấy đã là biểu hiện của sự tha hóa.

Quyền lực làm tha hóa con người nhanh nhất, nhanh không thể tưởng nổi. Chỉ cần sau một cuộc bỏ phiếu hoặc sau một quyết định phong chức, người có quyền lực ấy có thể bỗng nhiên khác hẳn, họ bắt tay theo kiểu khác, chào hỏi kiểu khác, dáng đi bệ vệ hơn, ra oai hơn, cách nói cũng vậy, thấy phát ngượng lên nhưng chính họ không biết, cứ như là việc đương nhiên vậy, nghĩa là nó đã thấm rất nhanh vào máu, thành phản xạ tự nhiên.

Quyền lực không chỉ làm tha hóa mấy con người cụ thể, mặc dù đúng là bắt đầu từ đó, nó còn làm tha hóa lớn hơn – tha hóa một chế độ, một vương triều. Nhiều trường hợp khi thắng đến đỉnh cao rồi thì đó là lúc bắt đầu thua chính mình; khi có trong tay tất cả thì bắt đầu mất dần.

Thử nhìn lại các triều đại phong kiến Việt Nam: Hầu hết, lúc đầu được nhân dân ủng hộ lên nắm quyền, làm được nhiều việc lớn cho đất nước, dân tộc nhưng sau đó thì bị tha hóa bởi quyền lực, từ tha hóa một số người đến một bộ phận rồi thành việc phổ biến của một vương triều, rồi sụp đổ, vương triều khác sau đó lên thay, một thời gian cũng lặp lại y như vậy.

Nhà Ngô, nhà Đinh, Tiền Lê có công như vậy, nhưng mỗi triều đại chỉ tồn tại trong vòng 15-30 năm; nhà Lý, nhà Trần có công lớn, nhiều lần đánh thắng quân Tống và quân Nguyên, nhờ biết lấy dân làm gốc mà chiến thắng, cầm quyền vào loại lâu nhất, trên dưới 200 năm mỗi triều đại, dù vậy, nhưng cuối cùng cũng bị tha hóa mà kết thúc; nhà Hồ thì quá ngắn, mặc dù có một số tư tưởng và chủ trương cải cách nhưng ngay từ khi mới lên đã không được dân chúng đồng tình, mâu thuẫn quyền lực trong giới quý tộc và mất nước vào tay ngoại xâm; nhà Hậu Lê (Lê sơ) mặc dù lúc đầu được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ, đứng lên làm khởi nghĩa Lam Sơn, thắng giặc Minh hung bạo, nhưng khi lên cầm quyên rồi lại tha hóa, giết các trung thần vì họ can ngăn những việc làm sai trái và sợ họ chi phối quyền lực, Nguyễn Trãi cũng bị giết trong giai đoạn này, sau nhờ có minh quân mà nhà Hậu Lê gượng lại được một thời gian, và rồi cuối cùng cũng tha hóa, tồn tại chưa được trăm năm; nhà Mạc cũng vậy, chỉ tồn tại khoảng 65 năm; tiếp theo là thời kỳ vừa có vua và có chúa, chúa giành nắm hết quyền lực, nhiều khi vua chỉ là hình thức cho có vì, các chúa cũng tranh giành nhau quyền lực, đến mức phải cắt cứ vùng này, vùng kia, chia cắt đất nước ra để mỗi bên cai trị một vùng; đến Tây Sơn cũng vậy, chiến công oanh liệt, lẫy lừng là thế, vậy mà sau khi Quang Trung mất thì tha hóa, tham nhũng và sụp đổ, tồn tại chỉ có 24 năm.

Phần lớn các triều đại ấy đã thoái hóa ngay cuối đời vua thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, chứ không lâu, tất nhiên là trừ một ít trường hợp. Lâu nay lịch sử nước ta đã ghi lại khá rõ các chiến công lừng lẫy của cha ông, nhưng lịch sử chưa viết kỹ về thời kỳ suy thoái, sự tha hóa quyền lực và nhất là nguyên nhân của nó. Đây rất có thể là một khiếm khuyết trong viết sử. Chính vì vậy mà không rút được kinh nghiệm đầy đủ để phòng ngừa, nên cứ bị lặp đi lặp lại.

Liên Xô trước đây cũng vậy, thời kỳ đầu thực hiện khá tốt tư tưởng nhà nước của dân, quyền lực về tay các Xô – Viết là cơ quan thật sự đại diện cho đại đa số nhân dân, làm việc vì nhân dân, đã lập nên nhiều công tích lớn lao, vĩ đại, đánh thắng 14 nước đế quốc bao vây, bảo vệ được chính quyền nhân dân non trẻ, chiến thắng trong đại chiến thế giới thứ 2, cứu nhân loại khỏi thảm họa phát xít, công nghiệp hóa thành công một đất nước khổng lồ trong thời gian ngắn, đưa một nước chủ yếu còn nông nghiệp, thủ công lên thành một nước công nghiệp hàng đầu thế giới, một cường quốc, dẫn đầu nhiều lĩnh vực; vậy mà sau đó không lâu thì bị tha hóa về quyền lực, về đạo đức, bảo thủ và giáo điều, không chịu đổi mới, ai nói khác thì bị quy chụp là “xét lại”, là “muốn đưa đất nước đi theo con đường TBCN”… và cuối cùng thì đổ ào một cái, đến mức khó hiểu nổi.

Trước đây có nhiều lần giải thích rằng, Liên Xô đổ là do các thế lực thù địch phá bằng thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Địch thì lúc nào chẳng phá, do nó phá nên mới gọi là địch, mà phá sao bằng trước đó, 14 nước đế quốc đến bao vây khi nhà nước Xô viết còn non trẻ, đại chiến thế giới thứ 2 quân đội phát xít tập trung toàn lực tấn công Liên Xô làm chết hàng chục triệu người. Nếu địch mà phá ngã đổ Liên Xô như thực tế đã xảy ra thì địch quá giỏi (?) Chẳng phải vậy đâu! Liên xô đổ chính là “tự đổ”, do suy thoái, tha hóa mà đổ. Liên Xô đã tự đánh gục chính mình.

Sự tha hóa về quyền lực có thể dẫn đến cha con giết nhau, anh em, chồng vợ giết nhau, người ta giết cả vua, gây ra những cuộc chiến tranh mất bao nhiêu sinh mạng để tranh giành quyền lực, thậm chí người ta bán rẻ Tổ quốc và đem dân tộc làm nô lệ cho ngoại bang để đổi lấy ngai vàng.

Tất nhiên trong xã hội thời nào cũng có người tốt, nhân cách đáng trọng. Đối với họ, quyền lực được giao là để bảo vệ dân, đất nước và bảo vệ lẽ phải, đạo nghĩa, chống gian trừ tà. Họ luôn sẵn sàng trao trả quyền lực trở lại cho nhân dân khi đủ điều kiện. Đã có những ông quan thanh liêm treo ấn từ quan vì xét thấy mình không còn đủ sức gánh vác chuyện sơn hà hoặc là không muốn có lỗi với dân vì không ngăn cản nổi những điều ngang trái. Đã có những ông vua từ bỏ ngai vàng, trao quyền lực cho lớp người trẻ, kể cả vào chùa để thúc đẩy các công việc thánh thiện cho đời và cho muôn dân.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, giành lại được một đất nước đã mất, người có công lớn nhất lãnh đạo cuộc cánh mạng là Hồ Chí Minh, nhưng lúc đầu Người không chịu làm Chủ tịch, Người nói không muốn làm vua, không muốn công danh quyền lực. Tập thể phân tích đây là trách nhiệm trước quốc dân đồng bào, là gánh vác trọng trách và khó khăn, cuối cùng Người đã nhận lãnh trách nhiệm, phát biểu trước đồng bào sẽ làm hết sức mình để phụng sự nhân dân và mong nhanh có người thay thế để được về vui sống với điền viên, giản dị và thanh bạch.

Ngày ấy có một Huỳnh Thúc Kháng đang sống ẩn sĩ trong vườn mít ở miền Tây Quảng Nam được Hồ Chí Minh mời ra làm Phó Chủ tịch nước, có lúc làm Quyền Chủ tịch nước, cũng một con người như vậy, không cần mong vinh hoa phú quý, chỉ đem toàn bộ tâm lực phục vụ nhân dân. Đó là những con người có nhân cách lớn, quyền lực không đe dọa được và cũng không cám dỗ được.

Ngay cả các nước tư bản cũng có không ít người ra ứng cử để cống hiến cho quốc gia, chứ không phải để làm giàu. Thời gian vừa qua, ở nơi này nơi khác, thỉnh thoảng có những đồng chí bí thư thành ủy, thường vụ tỉnh ủy đã tự nguyện chủ động rút lui sớm, khi chưa hết tuổi và chưa hết nhiệm kỳ, để những vị trí lãnh đạo cho các đồng chí trẻ hơn (như Bí thư Thành ủy Tam Kỳ và Bí thư Thành ủy Hội An ở tỉnh Quảng Nam chẳng hạn)…

Ngược lại, trong xã hội, ở chốn quan trường, không ít người đầy tham vọng quyền lực. Khi quyền lực được gắn với chữ “tham”, lòng tham, thì đó chính là động cơ, nguyên nhân và biểu hiện của tha hóa quyền lực. Không thể hy vọng và tin tưởng gì ở họ, ngược lại phải hết sức cảnh giác, đề phòng bị lừa phỉnh phủ dụ, mị dân, đừng gửi trứng cho ác, đem sự nghiệp của dân của nước trao vào tay họ.

Mặt khác, quyền lực không thể trao cho ai mà không cần kiểm soát. Không ngây thơ được! Nó là con dao hai lưỡi. Nó có thể biến người sử dụng nó từ một người chưa xấu trở thành người xấu, biến người sử dụng nó thành nô lệ cho nó. Mấy chục năm sau khi thống nhất đất nước, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng Đảng. Nội dung các văn bản ấy nhìn chung đều đúng, không sai, việc tổ chức thực hiện cũng tích cực, thậm chí có lúc vất vả nữa, nhưng tình hình tham nhũng, “lợi ích nhóm”, mua quan bán chức…, gọi chung là thoái hóa, không dừng lại mà còn tăng lên, lan rộng hơn, gây nhức nhối hơn, làm cho lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước tiếp tục giảm sút, đến mức nghiêm trọng và báo động. Vì sao vậy?

Chắc chắn không phải việc chống các tiêu cực ấy là ta chủ trương giả vờ, không chống thật. Mà là chống không được, không nổi. Vậy còn thiếu cái gì ? Trên Báo Tuổi trẻ nhân dịp ngày 3.2 năm nay tôi có nhấn mạnh hai vấn đề còn thiếu, coi như chưa làm, mà nếu không làm thì không khắc phục được tình hình, và có thể sẽ tiếp tục xấu hơn, không tránh được. Đó là tập trung kiểm soát quyền lực và bổ sung mạnh các cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội.

Quyền lực như đã nói, luôn có mặt trái là làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng nó mà không đủ nhân cách. Nó như con dao hai lưỡi, con ngựa bất kham, luôn lồng lên quật ngã những người cưỡi nó, nếu họ không đủ nhân cách, bản lĩnh, năng lực cầm cương. Nhất thiết phải kiểm soát quyền lực, không thể chủ quan, lơ là, không thể đùa với lưỡi dao nhọn, đã có rất nhiều bài học thực tiễn rồi, thực tế đã chứng minh rồi. Phải bàn kỹ và có quyết tâm chính trị để thực hiện. Đảng ta phải tập trung cao, tích cực lãnh đạo công việc này. Đây là loại công việc quan trọng vào bậc nhất.

Trong đó có các việc như cơ cấu và phân bổ lại chức năng, quyền hạn của các cơ quan nhà nước theo hướng kiểm soát và điều chỉnh lẫn nhau (để Nhà nước thật sự là một cơ thể thống nhất và tự kiểm soát, tự điều chỉnh được mình, có sức đề kháng cao với căn bệnh thoái hóa quyền lực, có khả năng sửa sai nhanh nhất…), kể cả chuyện Tòa án Hiến pháp cũng nghiên cứu, xem thử người ta làm thế nào, có mặt ưu, mặt nhược gì, ta vì sao không, vì sao nên; đổi mới căn bản nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó có phương thức lãnh đạo xây dựng nhà nước thật sự của dân, bảo đảm quyền lực là của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho nhà nước. Ủy quyền mà không mất quyền. Ủy quyền và kiểm soát được quyền lực, không để lộng quyền.

Một dân tộc muốn tiến lên cần phải có bộ tham mưu chiến lược. Có sự lãnh đạo của một Đảng chân chính và trí tuệ là yêu cầu khách quan. Nhưng khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì hoạt động của Đảng không tránh khỏi có nhiều việc liên quan với quyền lực. Tuy vậy, Đảng phải tự mình luôn ý thức về sự lãnh đạo của mình chủ yếu phải bằng giá trị (văn hóa) chứ không phải bằng quyền lực, và Đảng phải nghĩ ra các cơ chế để đảng viên, nhân dân và pháp luật kiểm soát mình, kể cả nhân cách và việc sử dụng quyền lực, để Đảng được rèn luyện liên tục, thường xuyên, từ đó mà không bị thoái hóa và ngày càng trưởng thành hơn. Thực hiện điều ấy bằng cơ chế kiểm soát quyền lực và cơ chế thực thi dân chủ.

Để có thể thành công, bản thân Đảng phải gương mẫu, từng cấp ủy và từng cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu, vượt qua chính mình. Đảng phải là “con” của nhân dân, là “con nòi” của dân tộc, là đứa con trung hiếu và trưởng thành, để “lòng dân yêu Đảng như là yêu con” như cách nói của Bác Hồ và nhà thơ Tố Hữu. Làm được như vậy, Đảng sẽ được nhân dân luôn tin yêu, nhờ đó mà giữ vững được vai trò lãnh đạo lâu dài của Đảng, để Đảng làm tròn được sứ mệnh phụng sự nhân dân và Tổ quốc.

VNH/TNO

21 tháng 7, 2015

Không thể lẫn lộn

Đọc một loạt bài "mênh mông thời sự"do Cụ Ca trưởng Làng, ông anh Fio, bạn LTH v.v. đưa về, tôi xin phát biểu đôi điều. Xin không nhắc lại những nội dung của các tác giả, chỉ cố gắng nêu lên một số v/đ có tính mới hoặc chưa hiểu rõ...

- Vận dụng chủ trương "đa phương hóa, đa dạng hóa" quan hệ với thế giới vào đối sách của VN với HK và TQ như thế nào luôn là một câu hỏi cần giải đáp thỏa đáng.

Thực tế những năm qua cho thấy, có hai xu hướng đã và dường như vẫn đang tồn tại: Xu hướng thỏa hiệp đến mức gắn bó với TQ và xu hướng dựa hẳn vào HK để chống TQ. Mọi phức tạp hiểm nguy cũng từ đó mà sinh ra. Vậy làm thế nào để có thể giữ thăng bằng trên dây? giữ khoảng cách đều nhau giữa hai ông kễnh, khiến cho ta ở giữa được lợi? Theo tôi, trước tiên cần bắt đầu từ một xuất phát điểm cơ bản: gác lại ý thức hệ, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Nếu không "chuyển dịch" nhận thức cho tương thích với thực tiễn thì sẽ rất dễ phạm sai lầm theo cả hai xu hướng nói trên. Sau đó, cần dứt khoát trả lời cho được câu hỏi quyết định: ai là bạn, ai không thể là bạn của ta trước mắt cũng như lâu dài? Nếu còn mơ hồ điều cơ bản này thì mọi kế sách đều không thể được coi là đúng đắn.

Xét về lợi ích dân tộc thì hiện nay và lâu dài, ai trong hai siêu cường luôn là mối đe dọa thường trực đối với độc lập, chủ quyền và lãnh thổ VN? HK hay TQ? Câu trả lời đã rõ ràng: TQ. Ai sẽ có thể giúp VN phát triển và mạnh lên? HK. Suy ra, lợi ích lâu dài của dân tộc ta tương đồng với lợi ích của HK nhiều hơn. Vậy, làm thế nào trong bối cảnh oái oăm của lịch sử nêu trên, chúng ta lại không được dựa nước này, chống nước kia, để giữ được hòa bình, tránh né được chiến tranh? Liệu độc chiêu "đu đưa" có qua mắt được đám Bành trướng BK và cả HK?? Tôi cho rằng rất khó. Bởi mấy lý do sau.. Về lý luận, nếu các vị tự cho ML đầy mình thì không thể không thuộc lòng học thuyết đấu tranh giai cấp, giữ vững lập trường "CM không ngừng" (Một tác phẩm của V. Lênin) để đứng về một phía, chứ không thể lập lờ đứng giữa làm "bạn với tất cả", kể cả cừu và sói! Lâu nay người ta vẫn gọi những người như vậy là... phần tử cơ hội! Nếu ai phủ định luận điểm cơ bản trên của ML thì coi như họ đã rời bỏ tư tưởng CS, chỉ còn là tự xưng! Nói cách khác, chính các vị đang “tự diễn biến” (có lợi cho dân cho nước), bởi vậy đừng mắng mỏ lo sợ những người đã tự diễn biến từ lâu!. Hoàn toàn có thể cảm thông với các vị từng tôn thờ, thậm chí thành danh nhờ một học thuyết đã có lúc đúng, nhưng giờ đây buộc phải lột xác.. Vẫn có thể là XHCN nhưng nên là “XHCN hiện đại” với một tổ chức chính trị cầm quyền thực sự dân chủ, trong sạch, sáng suốt, lấy lợi ích dân tộc làm kim chỉ nam. Từ thực tế đó, xin chân tình đề nghị: hãy “tạm gác” CN ML sang một bên khi quan hệ với cả hai siêu cường HK có nhiều yếu tố XHCN và nhà nước TBCN mang màu sắc Trung Hoa!

- Không thể không thừa nhận những thành công bước đầu về mặt ngoại giao, danh nghĩa, uy tín v.v. của ông Tổng trong chuyến Mỹ du vừa qua. Nói “bước đầu” vì chủ yếu mới chỉ trên nhận thức, lời nói, câu chữ, còn về hành động cụ thể, HK còn phải "tham khảo" ý kiến và nghe ngóng thái độ ông chủ nợ ba Tầu! (hiện Mỹ nợ TQ khoảng 1.300 tỷ USD). Dù sao chuyến đi cũng đã đạt được mục tiêu vừa thể hiện quan điểm thật sự "muốn làm bạn" với HK, vừa đánh tiếng để TQ hiểu rằng đã đến thời điểm VN không hoàn toàn đơn độc trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền của mình. (Như trong chiến tranh 1979). Vậy nên TQ hơi giật mình vội cử tay phó Thủ sang ngay và bác Tổng đã rất vui mừng, coi như một minh chứng của đường lối đu đưa đúng đắn!..

Điều đó chỉ đúng một phần. Thực tế cuộc sống không đơn giản như vậy. Trên thế giới chỉ có một số nước nhỏ, vị trí không quan trọng có thể trung lập gần như hoàn toàn trong một thời gian dài trước mọi biến cố lịch sử. Vị trí địa chính trị của VN quá nhạy cảm, quá quan trọng, nên xét về lâu dài sẽ rất khó duy trì thế cân bằng lý tưởng để đi lên.

Vậy phải chăng nên hiểu về bản chất chính sách cầu hòa đa phương, không theo ai chống ai v.v.v. của VN như sau: Chúng ta cần hòa bình nên cần khôn khéo hóa giải mọi nguy cơ xung đột vũ trang, không làm lính xung kích cho bất kỳ ai để đánh ai, giữ vững ổn định, ra sức tranh thủ thời gian, tận dụng mọi điều kiện thuận lợi nhằm đưa đất nước nhanh chóng tiến lên trở thành QG hùng mạnh về mọi mặt, (đặc biệt là về quân sự) đủ sức đánh bại mọi âm mưu xâm phạm lợi ích dân tộc ta, trước hết là từ CN bành trướng BK. Vì vậy, về đối ngoại, chừng nào còn nguy cơ bành trướng, còn cần cảnh giác cao độ, không thể coi lập trường "không ngả sang bên nào” là mục tiêu lâu dài, cân bằng vĩnh viễn, là tuyệt đối trung lập, thậm chí thỏa hiệp vô nguyên tắc với kẻ không thể là bạn trăm năm. Về đối nội, làm suy yếu đất nước do kiên định mô hình CNXH cũ, nặng tay với người dân, nhẹ tay với tham nhũng, tự mâu thuẫn nội bộ do phe phái, chậm chuyển đổi thể chế v.v. tất cả sẽ tạo ra nguy cơ tiềm ẩn vừa mất nước vừa mất luôn chế độ. Nói cách khác, cần phân biệt rõ ràng dứt khoát giữa mục tiêu chiến lược lâu dài của cả dân tộc với kế sách khôn ngoan, chiến thuật phù hợp trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh cụ thể, tạo cơ hội giữ được hòa bình càng lâu càng tốt; không thể lẫn lộn với nhau, lấy cái nọ thay cho cái kia, dễ dẫn đến thất bại.

Đó cũng là lý do khiến chúng ta bình tĩnh tự tin, vui nhưng không lạc quan tếu, lo nhưng không hoang mang, lại càng không thể vô cảm trước vận mệnh đất nước và tương lai con cháu.

13 tháng 6, 2015

Gửi mấy lão họ Bành

Họ Bành đây chính là tên chung gọi những kẻ mang nặng đầu óc bành trướng Đại Hán Bắc Kinh. Vừa rồi trên Blog của cụ Đăng Sinh có tải về mấy bài viết trên tờ “Binh khí đại toàn “ và của kẻ được gọi là “học giả “ Ngưu Bạch Vũ. Nội dung mấy bài đó xoay quay chủ trương chiến lược: phá hoại VN bằng mọi thủ đoạn bẩn thỉu ti tiện nhất, tiến tới biến VN thành phiên thuộc, trước mắt tập trung vào việc phát động chiến tranh đánh chiếm Trường Sa của nước ta v.v...

Dẫu biết đây chỉ là “võ mồm” của mấy kẻ ấm đầu, tư tưởng đặc sệt chủ nghĩa dân tộc nước lớn lỗi thời, trình độ nhận thức rất non nớt, thực không đáng ra roi, nhưng mỗ tôi không thể không viết mấy dòng quất vào bộ mặt bọn chúng. Nếu không có lời răn dạy tử tế, bọn này tưởng mình hay mình giỏi, mình đúng, rồi càng làm càn.

Hiện cũng đã có một số bài của bạn đọc VN phê phán luận điệu xằng bậy nói trên; chủ yếu nhắc lại những trang sử oai hùng của dân tộc ta đánh thắng bọn xâm lược phương Bắc trong quá khứ. Nhưng hiện nay và sắp tới thì sao? Có lẽ cũng nên có mấy lời biện giải. Xin được trình bày ngắn gọn như sau
1/ Bọn họ đều rất khoái chí nhắc lại rằng VN đã bị TQ đánh chiếm từ lâu, vì vậy dẫn dụ người đọc đi đến kết luận: việc lấy lại “đất cũ” hiện nay cũng là điều đương nhiên! Hợp lẽ!

Thật là điển hình của lozic kẻ cướp, vừa tham lam vừa ngu tối. Thử hỏi, nếu cứ theo lập luận đó để ứng xử trong quan hệ quốc tế thì thế giới đương đại sẽ ra sao? Tất cả các nước thuộc địa cũ sẽ phải bị trả về cho các nước thực dân, Viễn Đông của Nga sẽ là của TQ, Ba lan sẽ thuộc Đức v.v. Không cần nói đâu xa, ngay TQ hiện nay cũng đã từng bị quân Mông Cổ đánh chiếm từ thế kỷ thứ XI, lập ra triều đại nhà Nguyên, thống trị mấy trăm năm, vì vậy TQ phải bị trả về cho... Mông Cổ! Liệu “con bò lông trắng” (Ngưu bạch Vũ) có chấp nhận làm dân nô lệ cho cố quốc đó không?
Nhân đây cũng cần nhắc lại câu nói của HCM: thà ngửi phân của Pháp mấy năm còn hơn ngửi phân TQ ngàn năm!

Nói để các vị biết tâm trạng thật của dân VN chúng tôi: thà làm phiên thuộc của bất kỳ nước văn minh nào nhưng nhất định thà chết chứ không làm nô lệ cho Tầu khựa.

2/ Họ luôn nhai lại luận điệu ưa thích rằng TQ giúp VN đánh Pháp đánh Mỹ v.v.. rất vô tư, nhưng VN vô ơn, phản bội v.v...

Cần nhắc lại một lần nữa sự thật lịch sử đã được chứng minh: TQ đã tính toán rất thâm hiểm, ích kỷ: thà mất ít vũ khí, lương thực, thậm chí nuôi học sinh VN ăn học v.v... để giữ yên bờ cõi còn hơn bị chiến tranh lan sang tàn phá đất nước mình. Mấy chục năm qua, TQ không bị bom đạn nước ngoài tàn phá chính là nhờ có xương máu của nhân dân VN! Người dân TQ thì bị lừa bịp, vô tư thật nhưng lãnh đạo của họ thì chỉ lợi dụng xương máu của nhân dân Trung - Việt phục vụ cho mưu đồ chính trị bẩn thỉu của họ mà thôi. Ta hãy nhắc lại vài điều: tại hội nghị Giơnevơ, TQ ép VN thỏa hiệp chia 2 miền để MB làm lá chắn cho họ. Mao từng muốn “thế giới đại loạn” để TQ yên tâm lo việc nội bộ; đi đêm với Ních sơn: “Ta không đụng tới mi, mi đừng động tới ta” mở đường cho Mỹ ném bom Hà Nội; luôn lợi dụng lúc VN khó khăn để chiếm thêm lãnh thổ biển đảo của VN v.v... Đó là đồng chí 4 tốt luôn vô tư ư?

3/ BĐ hiện nay đâu phải chỉ là quan hệ lợi ích giữa TQ-VN; đây là nơi có những lợi ích chung rất cốt lõi của HK, Nhật , Ấn, Úc, Asean, thậm chí cả nhóm nước G7. Nếu hy vọng đánh chiếm TS của VN mà không đụng chạm tới nước khác thì thật ngây thơ và mơ hồ về chính trị. Cây bút “bò lông trắng” cần hiểu rằng: gây sự ở BĐ, trên thực tế, TQ đang khiêu khích toàn thế giới văn minh, chứ không phaỉ chỉ chống phá VN. Liệu TQ có dám kiêu ngạo chủ quan trỗi dậy để chống lại toàn thể loài người tiến bộ đang ngày cáng nhận rỗ bộ mặt thật của họ và liên kết với nhau ngăn chặn nguy cơ "con trời tự xưng"?

Nếu còn chạy theo ảo mộng xâm chiếm nước khác, kiêu ngạo tưởng mình mạnh lắm rồi gây xung đột ở BĐ cũng như các nơi khác, TQ chỉ “thủ bại hư “mà thôi!

30 tháng 5, 2015

Một câu khẩu hiệu thiếu tính khoa học (bài 5)

Mọi người đều biết, một đảng cầm quyền, một cá nhân lãnh đạo trong nhiệm kỳ của mình phải luôn đề ra được những câu khẩu hiệu ngắn gọn, dễ hiểu, nhất quán, xác định mục tiêu chiến lược của toàn dân tộc trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.

Đảng CSVN từ đại hội VIII đến nay cũng đã đưa ra được những câu khẩu hiệu xác định mục tiêu phấn đấu của toàn đảng, toàn quân, toàn dân ta... Dưới đây xin trích dẫn tóm tắt.

- ĐH 8 (7/96) đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng nước VN độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân, vì tình hữu nghị và sự hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

- ĐH 9 (2001)xác định mục tiêu chung của CMVN là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh.

- ĐH 10 (2006) xác định: “XH XHCN mà Đảng và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân lao động làm chủ.

- ĐH 11 (1/11) chủ trương đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đọc lại những câu chữ quan trọng trên đây, chúng ta có thể nêu lên một vài cảm nhận sau:

Một: Khẩu hiệu chiến lược tại mỗi kỳ Đại hội không giống nhau, thay đổi, thêm bớt một số nội dung, câu chữ rất quan trọng, thể hiện sự lúng túng, thiếu nhất quán. Một khẩu hiệu CM mang tính chiến lược phải có ý nghĩa tương đối lâu dài, ít nhất cũng được vài ba chục năm,nếu không nói hàng trăm năm, không nên thay đổi liên tục theo nhiệm kỳ. Đó chính là lối tư duy ngắn, (tư duy nhiệm kỳ), đối phó, tù mù, trừu tượng nên rất khó đưa vào thực tiễn cuộc sống. Liệu ĐH 12 sắp tới có khẩu hiệu gì mới không?

Hai: Chỉ có ĐH 8,9 nói về độc lập dân tộc, những ĐH sau không đưa nội dung độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ vào khẩu hiệu (mục tiêu). Đó là điều rất không bình thường, nhất là trong bối cảnh TQ đang thực hiện âm mưu can thiệp, chi phối và gặm dần lãnh thổ trên biển trên bộ,tiến tới thôn tính nước ta. Thử hỏi: tư tưởng HCM về “Độc lập-tự do” biến đi đâu? Ai lo độc lập cho VN đây? phải chăng đã có “đ/c 4 tốt” lo hộ?

Giờ đây, sau ĐH 11, chúng ta ai cũng thuộc lòng câu khẩu hiệu quan trọng bậc nhất xác định nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược của đất nước ta, ít nhất đến năm 2016. Đó là câu: xây dựng một nước VN “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Lâu dần nói mãi, trích mãi thành quen, không ai còn để ý đến tính khoa học, tính thực tiến của nó đến đâu, nói cách khác câu ấy đúng hay chưa đúng, thừa thiếu ra sao v.v...

Thật lòng, đã từ lâu, mỗ tôi cứ băn khoăn thấy câu khẩu hiệu trên có nhiều nội dung vừa thừa vừa thiếu, rất phản cảm, thậm chí là phản động! Xin tóm tắt mấy luận giải ngắn gọn sau đây:

1. Tách rời dân và nước là không phù hợp thực tế. Không thể có nước nếu không có dân, ngược lại dân không có nước thì thành …người ta. Dân và nước phải là một thể thống nhất hữu cơ, tại sao tách rời? Người ta nói “dân có giàu nước mới mạnh” là nhằm giải thích mối quan hệ tương hỗ khăng khít vốn có giữa hai yếu tố đó, đồng thời nhắc nhở lãnh đạo phải trước tiên đặt lợi ích nhân dân lên trên hết v...., chứ không phải để tách riêng ra theo thứ tự tầm quan trọng một - hai - ba! v.v... Hơn nữa, thực tế đã có trường hợp, dân rất giàu mà nước chưa chắc mạnh. Ngược lại có nước, dân nghèo đói nhưng lãnh đạo tập trung phát triển vũ khí, rèn ý chí độc lập tự cường, v.v... nên nước vẫn mạnh khiến khối anh giàu phải chờn. Một đất nước được coi là mạnh phải hội đủ nhiều điều kiện đồng bộ, không chỉ có dân giàu là hiển nhiên nước sẽ mạnh. Bởi vậy, xưa nay không phải cứ nước nghèo thì thua nước giàu do không mạnh bằng. Trong khẩu hiệu của các QG, cương lĩnh tranh cử của cá nhân v.v... không ai tách ra như vậy, bao giờ cũng đề cao dân tộc, đất nước, Tổ quốc (Ngay TQ còn có “giấc mơ Trung Hoa” kia mà.)

2. Đưa nội dung “dân giàu” lên đầu dẫn đến nhiều hậu quả tai hại: Vô tình khuyến khích quan tham, dân gian, hối hả làm giàu bằng mọi giá, bất chấp pháp luật, vứt bỏ truyền thống văn hóa, nhân nghĩa của dân tộc, coi rẻ danh dự đất nước, tạo ra lối sống dối trá, lừa đảo, chụp dựt nhằm hưởng thụ vật chất tối đa. (Có thể nói trên thế giới không ở đâu người dân “làm giàu” bằng cách rải đinh trên xa lộ, cắt trộm dây điện cao thế, tháo đinh ốc, tà vẹt đường ray tầu hỏa để bán sắt vụn,tiêu diệt mọi loài cá bằng ném mìn xuống biển, ăn trộm trong siêu thị nước ngoài v.v...). NHư vậy câu khẩu hiệu đã, đang và sẽ phá hoại sự nghiệp đất nước, con người VN, không phải thế lực phản động thì là gì?

3. Tách rời yếu tố dân - nước với xã hội là không logic. Đầu tiên là nói đến dân rồi đến nước, rồi đến xã hội. Đó là sự chia tách sai lầm vì 3 thành tố ấy vốn là một thể thống nhất. XH cũng là dân là nước, nước cũng là dân là xã hội, trên thực tế không có sự tách rời riêng ra thành 3 mảng như vậy. Hãy lấy một cộng đồng dân cư ở một phường làm thí dụ.

Khi giải quyết các vđ hàng ngày có ai phân biệt rạch ròi: việc này là để dân giàu, việc kia là để nước mạnh, còn việc nọ là xã hội văn minh? Từ ĐH 11, người ta đã bỏ "xã hội" đi nhưng dù sao vẫn chứng tỏ lối tư duy bầy đàn còn rất phổ biến, kể cả ở cấp cao!

4. Mục tiêu dân chủ và công bằng cũng bị trùng lắp, thiếu khoa học.

Thực tế chứng tỏ muốn có dân chủ lại phải dựa trên cơ sở công bằng về mọi mặt đời sống xã hội : quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, vật chất và tinh thần v.v... Trên trái đất này, có nơi nào đầy rẫy bất công mà lại có dân chủ? Ngược lại, nếu đã thực sự dân chủ thì dần dần sẽ có công bằng, vì khi đó không ai có thể độc đoán, chuyên quyền, che dấu sự thật để chiếm đoạt công sức của nhân dân, giàu lên bất chính, trong khi nhân dân vẫn nghèo khổ. Nói cách khác, biểu hiện cụ thể của dân chủ là công bằng; ngược lại, công bằng là điều kiện thực hiện dân chủ, vậy hai mục tiêu là một thể thống nhất, gắn kết với nhau, không nên tách rời. Hơn nữa, làm thế nào để có dân chủ mà lại không có tự do đây? Tự do chính là tiền đề tiến đến dân chủ. Chủ tịch HCM đã nghiền ngẫm cả đời để đưa ra một chân lý được cả thời đại công nhận “không có gì quí hơn độc lập tự do”; Tại sao Bác không nói “Không có gì quí hơn độc lập, dân chủ?.. Vậy chỉ nêu dân chủ mà không nói đến tự do lại là thiếu sót rất nghiêm trọng, là không trung thành với tư tưởng HCM! Không suy thoái tư tưởng thì là gì?

5. Hai yếu tố dân chủ và văn minh cũng không hoàn toàn độc lập với nhau, nên cố nhét cả vào một cái rọ khẩu hiệu cũng thành thừa. Trong thời đại hiện nay, một đất nước được coi là văn minh tất yếu phải là nước thực sự dân chủ; ngược lại, khi đã dân chủ thì sẽ phát huy được sức mạnh toàn dân, xây dựng được thể chế hợp lòng dân, mọi hoạt động theo ý chí nhân dân, kết quả là xã hội phát triển toàn diện, cả vật chất, tinh thần, kinh tế, KHCN, văn hóa, lối sống v.v... tức là trở thành nước văn minh. Không ở đâu, chính quyền mất dân chủ, lại được công nhận là nước văn minh. Vậy cứ phấn đấu dân chủ thực chất đi sẽ khắc có văn minh, việc gì phải kể lể dài dòng?

6. Trong khi có hàng loạt nội dung câu khẩu hiệu bị trùng lắp thì lại thiếu một mục tiêu quan trọng hàng đầu: đó là hạnh phúc của con người. Mưu cầu hạnh phúc là bản chất và quyền lợi tự nhiên vốn có của từng con người cụ thể cũng như cả cộng đồng nói chung và đã được hiến pháp nhiều nước văn minh thừa nhận, sao ở VN lại né tránh, bỏ đi? Hạnh phúc là tổng hợp của rất nhiều yếu tố trong cuộc sống, bao gồm đời sống vật chất được bảo đảm, môi trường trong sạch, có quyền tự do, dân chủ thực sự, đời sống tinh thần, văn hóa rất cao, thuộc đẳng cấp văn minh v.v... không phải chỉ lắm của nhiều tiền. Như vậy, coi nhẹ hạnh phúc của con người là đi ngược lại mục đích của mọi cuộc CM, mọi hoạt động của nhà cầm quyền chính nghĩa, chính danh ở mọi QG. Nếu không thừa nhận hạnh phúc của người dân và phấn đấu trọn đời cho mục tiêu đó thì Đảng, NN tồn tại vì ai đây? Về thực chất,khi đã gạt bỏ hạnh phúc của nhân dân thì mọi câu khẩu hiệu đưa ra dù chắp vá thống kê dài dòng đến mấy cũng đều là mất phương hướng, thiếu tôn trọng quyền con người, thậm chí là lừa mị!

Vậy đã đến lúc phải đổi mới tư duy triệt để, không nên lưu luyến cái cũ để rồi cứ loanh quanh thêm bớt, đổi chỗ vài ba từ đã cùn mòn trong khẩu hiệu cũ. Dẫu biết rằng khó có ai nghe nhưng mỗ tôi không thể không đưa ra một phương án của riêng mình, mong các cụ cảm thông, chia sẻ. Đây là câu khẩu hiệu mới mà theo tôi sẽ khắc phục được những thiếu sót nên trên.

5 tháng 5, 2015

Hiểu mình, hiểu người để hội nhập thành công (bài 3)

 (Tiếp theo phần thứ nhất - A)  
 
B.   Thử nhìn lại chính  mình: Ta là ai?

1. Về bản chất kinh tế, tất cả chúng ta đều xuất thân từ  nền sản xuất nông nghiệp nhỏ,, manh mún , tự phát, trình độ KHCN lạc hậu,chủ yếu tự cấp tự túc,sống nhờ vào may rủiv.v  Vì vậy thường  tư duy nhỏ, nghĩ ngắn( nhiệm kỳ),chỉ thấy lợi trước mắt kiểu ăn sổi,chụp dựt, không có cơ sở nâng tầm tư duy  sản xuất lớn,lâu dài , (Giấc mơ con phá nát cuộc đời con-Thơ Chế lan Viên).

Mục tiêu chiến lược cũng trừu tượng,khó hiểu, thay đổi liên tục. .( Hiến pháp  Hoa Kỳ từ đầu đến nay không đổi , Hiến pháp  VN thay nhiều lần),Cương lĩnh,chủ trương chính sách  cũng thay đổi qua từng  kỳ ĐH.
 
2. Về  bản chất tư tưởng, tác phong, lối sống  : Tất cả chúng ta, kể cả cán bộ đảng viên tiên phong nhất đều thoát thai từ chế độ PK, mang đậm dấu ấn vua quan phong kiến  rất nặng nề. Từ đó phát sinh những hiện tượng như:
 
- Thích đứng trên quần chúng dạy bảo huấn thị cấp dưới là chính, thích phân chia đẳng cấp trên- dưới, quan chức- thường dân, phân biệt chế độ hưởng thụ cả khi sống, khi ốm đau và cả khi chết! Thoải mái chi tiền dân,coi  tiền ngân sách là của riêng, có quyền ban phát sử dụng tùy thỏa thuận nội bộ, thích duy trì cơ chế xin- cho để ra oai, (nhưng tiền cho lại của dân chứ không phải của họ làm ra.)

- Thích được tôn sùng là lãnh tụ  để đứng trên pháp luật, định kiến với dân chủ hóa,,quyền con người, dị ứng với xã hội công dân,không thừa nhận bầu cử tự do, trưng cầu dân ý, tranh luận thiện chí, bình đẳng; Rất sợ công khai minh bạch,luôn tạo cơ chế quản lý làm lu mờ trách nhiệm cá nhân,nhất là trong hoạt động kinh tế.

  -Ngày càng xa rời thực tế cuộc sống người lao động , thường chỉ tiếp xúc với “dân chọn”, nắm tình hình qua giấy tờ, báo cáo của cấp dưới là chủ yếu.

- Ý  thức cộng đồng kém,,thiếu khả năng hợp tác để cùng giàu, giỏi cạnh tranh thiếu lành mạnh trong nội bộ hơn cạnh tranh với nước ngoài..

Hậu quả là trong chiến tranh dễ đoàn kết ,trong hòa bình lại dễ chia rẽ
 
  3.  Do không trải qua giai đoạn phát triển TBCN nên nhìn toàn cục,chúng ta còn  non yếu về  kiến thức và truyền thống kinh doanh,làm kinh tế,trình độ KHCN ,tư duy sáng tạo chưa phát triển,kém  mưu lược làm ăn v.v.so với  người TQ nên thường bị lừa,thua thiệt trong sản xuất kinh doanh..
 
4.  Đa số lãnh đạo đảng viên các cấp được học tập,đào tạo  tại LX cũ hoặc từ giáo trình dịch nguyên văn ,hoặc tự xào xáo biên soạn thiếu nhất quán nên chủ yếu  tiếp thu những yếu tố  chủ quan phiêu lưu nóng vội của lý thuyết XHCN thời  Stalin,coi trọng áp đặt,trấn áp hơn là thảo luận dân chủ, thuyết phục bằng thực tế; coi trọng “dân chủ nội bộ có chỉ đạo” hơn là  dân chủ thực chất đối với nhân dân.

-  Sai lầm lớn  nhất của lý luận  XHCN kiều LX là chủ trương công hữu hóa  tư liệu sản xuất chủ yếu,trước hết là đất đai,nguồn vốn v.v. quá sớm, đi trước ý thức con người quá xa.( ngày mai đây tất cả sẽ là chung, tất cả sẽ là vui và ánh sáng- Thơ Tố Hữu). Đó là điểm yếu chí tử khiến các thê lực thù địch,các nước văn minh lợi dụng xuyên tạc và kịch liệt chống CS( cho là  cộng vợ cộng chồng ). Con người là sản phẩm của tự nhiên gắn với bản chất  tư hữu để tồn tại. “ sự tước đoạt “ ( từ dùng  của V.Lênin) quyền tư hữu thực chất là tước đoạt quyền và khả năng sống của con người.

  Thực tế cho thấy: chế độ công hữu  TLSX chỉ có thể thực hiện sau nhiều thế kỷ nữa với ba điều kiện chủ yếu sau đây::
 
      Một là : Trình độ phát triển sản xuất xã hội và thu nhập đầu người  đã rất cao, đến mức sở hữu tư liệu sản xuất riêng  không còn có ý nghĩa gì đối với mọi người dân.
      
      Hai là : Phải có một bộ máy quản lý đời sống cộng đồng dân cư gọn nhẹ nhưng rất hiệu quả, ,có năng lực toàn diện ở trình độ  cao, trong đó mọi việc làm đều được điều chỉnh bởi ý chí toàn dân thông qua pháp luật ( một xã hội thượng tôn pháp luật ở đỉnh cao)
     Ba là : Bộ mấy  cầm quyền phải tập hợp được  những người thật sự chí công vô tư,toàn tâm toàn ý vì cộng đồng, không muốn, không cần và không thể tham nhũng.
 
    Cả ba  điều kiện tiên quyết nêu trên hiện chưa có ở nước ta. Vì vậy công hữu hóa của cải tài sản của đât nước  quá sớm rồi giao vào tay quan chức bộ máy  hiện nay  cũng tương tự  như …gửi trứng cho ác vậy!

-. Một sai lầm khác trong xây dựng hòa bình là chúng ta không đánh giá đúng vai trò của ý thức dân tộc, thay thế  quá sớm bằng giác ngộ giai cấp vô sản  khi chưa có cơ sở kinh tế -xã hội tương ứng.Chính điều này làm phân hóa đất nước,xung đột vũ trang,thù địch vùng miền,khó hòa hợp hòa giải dân tộc, tạo ra chống đối trong nội bộ ,khó hội nhập với thế giới văn minh v.v.

Biểu hiện cụ thể :  Nôn nóng  muốn đốt cháy giai đoạn, đẩy nhanh tiến trình lịch sử ,ảo tưởng có thể tiến lên  CNXH trong thời gian ngắn bằng lực lượng đám đông công nông. Do đó càng trung thành tuyệt đối với lý luận cũ, càng dễ trở thành bảo thủ,xa rời thực tiễn; luôn  đề cao ý thức hệ, chế độ, đảng v.v trong khi chưa coi trọng đúng mức lợi ích dân tộc  nên dễ thành mơ hồ trong xác định bạn thù…

- Những người nắm quyền lực thường lấy cuộc sống nhân dân làm đối tượng thí nghiệm những ý muốn chủ quan áp đặt bằng những quyết sách  đưa từ trên xuống ( Phổ biến và quán triệt những nghị quyết liên quan đến toàn dân do một số người soạn thảo ra rồi thông qua nội bô, không được  thảo luận công khai dân chủ trước toàn dân. Do đó không phải nghị quyết nào cũng đúng đắn,sáng suốt.

Trong những cuộc thí nghiệm nhằm chứng minh “ sự đúng đắn” của hệ tư tưởng, người lãnh đạo thường không tính đến những  hy sinh,mất mát  của người dân, không lấy con người làm trung tâm của mọi quyết sách.(   Trong khi định hướng của khối Asean vừa qua lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt đông ,hợp tác ).

- Bản thân hệ thống lý thuyết dẫn đường  của đảng CSVN hiện nay có nhiều lúng túng, tự mâu thuẫn, không thể khắc phục được nên dễ có những chủ trương hành động thiếu nhất quán,lúc tả lúc hữu, thay đổi tùy thời,tùy người, :

Xin đơn cử  vài dẫn chứng điển hình:
 
        - Một mặt chủ trương kết nạp doanh nhân (tư sản địa chủ mới )tức  kẻ thù giai cấp vào đảng,mặt khác vẫn kiên định lập trường giai cấp,thực hiện  mục tiêu XHCN tức tiêu diệt giai cấp; vậy là cho người giàu  vào đảng để nuôi béo, đến lúc nào đó sẽ diệt họ bằng cách  tịch thu tài sản để thực hiện mục tiêu công hữu hóa? Ngược lại, nếu không làm được điều đó thì sao gọi là XHCN ? ( theo lý luận cơ bản thì  “ công hữu hóa TLSX là hòn đá tảng của học thuyết  ML”)

        - Bản thân Đảng CSVN đã “tự diễn biến “ cả về nhận thức và hành động  từ lâu( trong ĐH 6) nhưng vẫn luôn lên án tự diễn biến, tự chuyển hóa v.v.. Theo lý luận , tự diễn biến là tự tìm ra chân lý cuộc sống,không bị sức ép bên ngoài mà tự mình kịp thời sửa chữa bổ sung triết lý  phát triển để điều chỉnh nhận thức và hành động cho phù hợp với thực tiễn khách quan, tránh được nguy cơ bảo thủ trì trệ, rất đúng với nguyên lý  của CN duy vật biện chứng,đáng lẽ phải khuyến khích, sao lại phê phấn,cấm kỵ?.

       - Tiếp thu lý luận về CNXH của LX cũ nên  đề cao một chiều  CN Duy vật,dẫn đến lối sống thực dụng hưởng thụ vật chất, không thừa nhận đời sống tâm linh,tôn giáo chân chính, nên đời sống văn hóa ngày càng xuống cấp. Một thời từng chủ trương xóa bỏ mọi thành quả của các chế độ cũ,kể cả vật thể và phi vật thể.: Cứ PK là xấu phải phá hết, tư bản  là phản động phải tiêu diệt hoặc cải taọ, kể cả kinh nghiệm làm ăn cũng như phong tục tập quán v.v.vBây giờ lại cho tự do hoạt động mê tín dị đoan tùm lum, như cầu tài cầu quan, hối lộ thánh thần v.v

      - Muốn công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, không thể không xây dựng  nền kinh tế tri thức ,kinh tế sáng tạo. Muốn có nền  kinh tế dựa trên KHCN phải tôn trọng tâng lớp trí thức. NHưng lý luận cũ chỉ đề cao công nông, thành kiến nhân sĩ trí thức ,hậu quả là khó tìm được nhân tài phục vụ sự nghiệp chung.
 
v.v và v.v..
 
5.  Đa số cán bộ đảng viên trưởng thành trong chiến tranh là chính nên dễ kiêu ngạo tự phụ, dựa dẫm vào quá khứ nhân dân anh hùng  để che lấp sai lầm khuyết điểm hiện tại, chưa có kiến thức và kinh nghiệm về KTTT, làm kinh tế kiều chiến tranh: đạt chỉ  tiêu trên giao  bằng bất kỳ giá nào,” dù phải hy sinh tất cả tốn kém bao nhiêu cũng được v.v., không coi trọng hiệu quả ,tiết kiệm. Nhiều người mắc bệnh  chủ quan duy ý chí, tưởng thắng trong chiến tranh sẽ dễ dàng  thắng trong hòa bình Hễ là lãnh đạo cấp cao thì không thể sai lầm, cái gì cũng đúng..Bí mật thỏa hiệp nội bộ để taọ ra bộ máy cầm quyền riêng nhưng lại tự cho mình  được phép quyết định vận mệnh dân tộc mà không dựa vào ý kiến đại đa số nhân dân thông qua bầu công khai dân chủ.

6. Bị nghèo khổ mất mát  trong chiến tranh kéo dài, không có cơ sở kinh tế riêng trước khi lên cầm quyền ( như ở nhiều nước phát triển )  nên số “không nhỏ”cán bộ đảng viên tranh thủ vơ vét,chụp dựt khi có thời cơ,điều kiện nắm quyền hành, ra quyết định.Quyền gắn với lợi  và với nhóm cùng có lợi  nên dễ đấu đá, hại nhau, mua bán để giành lấy ; mất dần phẩm chất hy sinh  vì nước vì dân , lại thường sĩ diện hão, thích hào nhoáng khoe khoang hình thức,đón rước linh đình, tốn kém, rất khác với những nước phát triển. Từ đó, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, lợi ích phân hóa với nhân dân, không thống nhất như trong chiến tranh..

-  Hiện nay không có cơ sở để chống tham nhũng thành công, vì sao?

    +  Tư tưởng tư hữu từ trong bản chất con người khiến cho nhiều cán bộ đảng viên luôn “muốn “ tham nhũng để tích lũy ban đầu bằng mọi thủ đoạn

    +  Không có khả năng nào khác để làm giàu chân chính ngoài con đường làm quan  có thời hạn nên”cần” vơ vét càng nhanh càng tốt để “hạ cánh an toàn.”

    +  Luôn được hưởng “tình tiết giảm nhẹ”   nhằm giữ uy tín và thế độc quyền nên cán bộ đảng viên vẫn yên tâm để “có thể “ tham nhũng dưới mọi hình thức và qui mô từ nhỏ đến lớn.

Khi quan chức đã “muốn, cần và có thể” tham nhũng thì làm sao ngăn chặn được?
 
 
C.                  Nhận định khái quát
 
   Dựa vào phương pháp luận “tìm về ngọn nguồn “nói trên, có thể đi đến một số nhận định quan trong dưới đây:
 
1.                   Thực tế nhiều thập kỷ qua  cho thấy VN chúng ta mới bắt đầu dò dẫm  phát triển KTTT  ở giai đoạn sơ khởi, chưa  có cơ sở vật chất kỹ thuật hùng mạnh,giàu có đến mức dư thừa,chưa có  điều kiện hình thành con người XHXN, nên chưa thể vội vàng bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN để  chuyển ngay sang chế độ XH CN hoàn thiện theo mô hình cũ dựa vào  ý muốn chủ quan của một số người cầm quyền.

Với trình độ phát triển XH thấp kém, những ưu khuyết điểm hình thành từ  bản chất cố hữu của mỗi con người VN nói chung, đảng viên CS nói riêng như  nêu trên,do hoàn cảnh lịch sử thay đổi, từ kinh nghiệm  các nước XHCN đã sụp đổ, có thể rút ra nhận xét: hệ tư tưởng cũ không còn phù hợp với nước ta,cần có một cơ sở  lý luận mới thay thế.

3.                  Do nóng vội, “bị ràng buộc”  bởi hệ tư tưởng XHCN  kiểu cũ( nhận xét của Ông Lý Quang Diệu về VN) vượt xa trình độ phát triển  của đất nước, bị lợi ích riêng  chi phối, tình trạng tham nhũng ngày càng khó khắc phục  nên mặc dù đảng CSVN trước kia  đã lãnh đạo toàn dân  giành được độc lập thống nhất đất nước ,nhưng  đến nay không còn đáp ứng được đòi hỏi vô cùng khắc khe của giai đoạn lịch sử mới.

 Thực tế cho thấy : Vđ đáng quan tâm nhất không phải là độc đảng hay đa đảng. Có nước độc đảng mà thành công ( Như Singapore với đảng AAA của ông LQD),có nước  đa đảng lại lộn xộn, chia rẽ,xung đột triền miên. Bởi vậy,vđ là tổ chức chính trị cầm quyền  có được nhân dân tín nhiệm bâu ra thông qua các định chế thật sự dân chủ hay không và có phẩm chất, năng lực xứng đáng hay không  mà thôi…
 
   4. Nhận định  trên không có nghĩa là phủ định sạch trơn,mà cần tiếp thu có chọn lọc mọi tinh hoa của  lý thuyết cũ,của truyền thống dân tộc,của nhân loại tiến bộ,những bải học thắng lợi trong quá khứ v.v.để tích cực chủ động tìm ra một hệ thống triết lý mới,mô hình tăng trưởng mới  có khả năng  điều chỉnh  sự phát triển tự phát của KTTT thành tự giác chuyển hóa  trong hòa bình và hội nhập, hướng vào  những mục tiêu dân tộc, nhân văn, hiện đại, phù hợp với lợi ích chính đáng chung của các quốc gia trên thế giới. Đề ra được những mục tiêu đúng đắn,vừa sức, phù hợp với nguyện vọng nhân dân và đặc điểm đất nước cũng chính là định hướng lâu dài tiến đến  mô hình xã hội mới,tốt đẹp hơn trong lịch sử tiến hóa nhân loại.Vậy không nên  băn khoăn tiếc nuối cái cũ nữa để có thể vui bước trên con đường mới do chính chúng ta mở ra.

Muốn vậy phải thực hiện dân chủ hóa thực chất,mạnh mẽ để  huy động trí tuệ toàn dân tộc và tận dụng thời cơ do  hội nhập đem lại nhằm tìm ra con đường phát triển mới cho đất nước.  DCH đúng đắn chỉ có lợi cho ban lãnh đạo đất nước,không có gì đáng sợ, vì bản chất DCH là nhằm phát huy  trí tuệ cộng đồng để phục vụ cộng đồng dân tộc, trong đó có lợi ích của chính nhà cầm quyền.

                                                     Hết